
Nằm trong danh sách các cơ sở sản xuất nước tương có chứa 3-MCPD vượt mức quy định của Bộ Y tế, ông chủ cơ sở nước tương Vĩnh Phước, Nguyễn Văn Ninh đã có lúc tưởng không còn có thể gắng gượng theo nghề.
Hàng không bán được, tiền vốn của ông cứ thế mất dần. Tiếc nghề đã theo đuổi bốn năm nay, ông quyết định bán căn nhà ở chợ Hiệp Tân, quận Tân Phú để làm lại từ đầu.
“Nhà bán được 1,6 tỉ đồng, tôi bỏ ra 1 tỉ để đầu tư nâng cấp nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị và vật dụng để sản xuất nước tương theo công nghệ mới của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố. Số tiền còn lại tôi để dành phòng thân”, ông Ninh cho biết.
Thay vì sản xuất theo công nghệ thủy phân cũ, nay ông Ninh sử dụng phương pháp lên men tự nhiên. “Tôi đã đem các mẻ sản xuất đầu tiên đi thử nghiệm ở Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng 3, hầu hết các mẫu được xét nghiệm đều có mức 3-MCPD dưới 0,16 mg/ki lô gam so với mức quy định là không được quá 1 mg/ki lô gam” ông Ninh khoe.
Tại cơ sở sản xuất nước tương Đông Phương ở quận Tân Phú, ông chủ Triệu Tô Hà cũng đang tập trung vào sản xuất thử nghiệm theo phương pháp mới. Sau khi học một lớp sản xuất nước tương sạch do Sở Khoa học và Công nghệ thành phố tổ chức hồi cuối tháng 5, ông Hà bắt đầu sản xuất thử nghiệm vào ngày 10/6/2007.
“Cũng mừng là kết quả xét nghiệm 3-MCPD của lô nước tương 10 độ đạm chỉ có 0,027 mg/ki lô gam. Nhưng cái khó bây giờ là thời gian để làm ra một mẻ nước tương lại chậm hơn so với cách sản xuất cũ khoảng 48 giờ. Nguyên liệu chuẩn bị cho sản xuất vì thế phải tăng lên ít nhất là gấp hai lần nếu muốn có hàng bán liên tục. Thiếu vốn để sản xuất nên tôi đang tính đến chuyện vay tiền của ngân hàng”, ông Hà chia sẻ những khó khăn của mình.
Cũng trong hoàn cảnh này, ông Ninh cho biết trước đây, mỗi tháng cơ sở ông sản xuất 6.000 lít nước tương, nay chỉ được khoảng 2.000 lít.
Hai tháng rồi, những cơ sở sản xuất nước tương nằm trong danh sách có sản phẩm vi phạm nồng độ 3-MCPD đều lâm vào cảnh khó khăn giống nhau, người tiêu dùng quay lưng, sản xuất ngưng trệ trong khi những ông chủ phải tìm cách giải quyết lương bổng cho nhân viên sao cho hợp lý vẹn tình.
Cơ sở Vĩnh Phước có 26 công nhân, trong đó 20 công nhân nghỉ chờ việc hai tháng nay được ông Ninh trả 50%/mức lương, sáu công nhân lành nghề còn lại vẫn hưởng 100% mức lương khoảng 1,5 triệu đồng /tháng. Trong khi đó ông Hà cho biết vẫn phải trả 100% lương cho gần 30 công nhân trong khi nước tương thì chưa bán được giọt nào.
Tại Xí nghiệp Nước chấm Nam Dương, đơn vị trực thuộc Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại thành phố, Giám đốc Nguyễn Thế Hưng, cho biết từ hai tháng nay xí nghiệp vẫn phải trả 70% lương hàng tháng cho 120 công nhân để đảm bảo đời sống cho họ. Sau sự cố vừa rồi, Nam Dương đã phải tiêu hủy gần 90.000 chai nước tương các loại còn tồn kho.
Từ cuối tháng 5, Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại thành phố đã đầu tư thiết bị công nghệ sản xuất nước tương sạch cho Nam Dương. Dự kiến giữa tháng 8 này Nam Dương sẽ đưa ra thị trường bốn loại sản phẩm nước tương mới có chất lượng đạt tiêu chuẩn 3-MCPD.
“Hiện chúng tôi đang làm việc với công ty tư vấn để chuẩn bị cho kế hoạch tung sản phẩm mới ra thị trường. Điều chúng tôi mong muốn là khôi phục lại niềm tin của khách hàng, đặc biệt là các khách hàng từ thị trường Mỹ và Nga”, ông Hưng nói.
Nam Dương đang hy vọng sau khi đưa ra sản phẩm mới, lượng nước tương tiêu thụ trong thời gian đầu sẽ đạt 60% công suất sản xuất của xí nghiệp, và sẽ có một ngày xí nghiệp chạy hết công suất (6 triệu lít/năm) như thời hoàng kim.
Không có đủ ngân sách để thay đổi hình thức bao bì cho loại nước tương mới dự tính đưa ra thị trường vào tháng 8 này, sản phẩm của cơ sở Đông Phương vẫn sử dụng lại những nhãn hiệu cũ là Hai Con Sư Tử, Sanvy và Arome nhưng gắn kèm theo logo nước tương sạch phía trước chai.
Ông Hà ước tính số nhãn hiệu cũ còn nằm trong kho trị giá trên trăm triệu đồng, nên ông phải tìm cách tận dụng. Trong khi đó ở cơ sở Vĩnh Xương, ông Ninh sẽ bỏ hẳn nhãn hiệu Ông Địa để lấy nhãn hiệu Vĩnh Xương.
Theo ông Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hội Lương thực - Thực phẩm Tp.HCM, hiện thành phố có khoảng 70 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nước tương các loại. Số đơn vị có dòng sản phẩm nước tương bị phát hiện có hàm lượng 3-MCPD vượt quá tiêu chuẩn cho phép trong hai đợt kiểm tra vừa qua chiếm khoảng một phần ba.
Nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn, ngày 21-6-2007, Hội Lương thực - Thực phẩm Tp.HCM đã ký hợp đồng với Viện Phát triển Công nghệ và Đào tạo để chuyển giao công nghệ sản xuất nước tương sạch và an toàn cho 21 cơ sở là thành viên của hội.
Sau gần một tháng sản xuất thử nghiệm và kiểm tra các mẫu nước tương của các đơn vị này, ngày 24-7 hội đã công bố danh sách 21 cơ sở áp dụng quy trình sản xuất nước tương sạch và an toàn.
Ông Minh cho biết thêm sắp tới hội sẽ yêu cầu tất cả các cơ sở sản xuất nước tương là thành viên của hội phải áp dụng công nghệ sản xuất sạch này để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
Dự kiến trong thời gian tới, hội sẽ kiến nghị thành phố cho thành lập làng nghề sản xuất nước tương nhằm tạo điều kiện cho các thành viên hỗ trợ nhau phát triển nghề theo hướng khép kín quy trình sản xuất và tiêu thụ một cách chuyên nghiệp nhằm giảm chi phí sản xuất, phục vụ người tiêu dùng với giá rẻ hơn.
Nói về chất lượng của nước tương được sản xuất theo quy trình do Viện Phát triển Công nghệ và Đào tạo chuyển giao, Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn cho biết nếu quy trình sản xuất sử dụng phương pháp lên men đậu nành, thủy phân và xúc tác tạo mùi, không sử dụng acid clorua (HCl) thì không thể có 3-MCPD được.
Tuy nhiên theo Giáo sư Sơn, do ở khâu thanh trùng nhà sản xuất đã bỏ muối và gia nhiệt để thanh trùng nên muối đã phản ứng ở nhiệt độ cao trên chất béo, cho ra 3-MCPD. Đó là nguyên nhân tại sao, dù áp dụng quy trình này, vẫn thấy xuất hiện hàm lượng 3-MCPD, tuy thấp hơn rất nhiều so với quy định tiêu chuẩn an toàn của Việt Nam.
Để giải quyết trở ngại này, Giáo sư Sơn khuyên các doanh nghiệp nên thanh trùng trước khi bỏ muối.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.