35 năm (1990 – 2025) không chỉ là hành trình của Hiệp hội Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), mà còn là câu chuyện của cả một ngành công nghiệp, một hành trình vươn mình của ngành nhựa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Nhìn lại hành trình “lớn lên” của ngành nhựa, ông Đinh Đức Thắng, Chủ tịch đương nhiệm VPA, cho biết vào thời điểm đất nước chuyển mình sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hầu hết các nhà máy nhựa vẫn còn vận hành bằng thiết bị thủ công, nhập khẩu cũ từ châu Á.
Thị trường nội địa lúc ấy gần như bị chi phối bởi hàng ngoại nhập do ngành công nghiệp nhựa Việt Nam còn rất non trẻ, sản lượng chỉ vỏn vẹn khoảng 380.000 tấn/năm, và mức tiêu thụ bình quân đầu người chỉ đạt 3,8 kg/năm, phần lớn nguyên liệu sản xuất phải dựa vào nhập khẩu.
Chính trong hoàn cảnh thử thách ấy, ngày 22/10/1990 Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) đã được thành lập theo Quyết định số 510/CNn-TCLĐ của Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ Công Thương). Điều này không chỉ tạo ra một tổ chức xã hội – nghề nghiệp đầu tiên mà còn thổi luồng sinh khí mới, gắn kết cộng đồng doanh nghiệp với sứ mệnh đại diện tiếng nói ngành và thúc đẩy công nghiệp hóa.
Giai đoạn 1995–2010 là một chương rực rỡ, chứng kiến bước nhảy vọt đầy ngoạn mục của ngành nhựa Việt Nam. Hàng loạt doanh nghiệp tiên phong, trở thành những thương hiệu quốc dân như Bình Minh, Tiền Phong, Rạng Đông, Duy Tân, Tân Tiến, Đại Đồng Tiến... được thành lập hoặc tái cấu trúc, kiến tạo nên diện mạo hoàn toàn mới cho ngành công nghiệp này.
Sự khác biệt được tạo ra từ quyết tâm đổi mới công nghệ. Thay vì duy trì sản xuất thủ công, các doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư vào dây chuyền hiện đại, ứng dụng công nghệ ép phun, ép đùn, ép thổi tự động, khuôn chính xác và đặc biệt là robot hóa khâu đóng gói. Sự đổi mới này không chỉ giúp nâng cao đáng kể năng suất và chất lượng mà còn mở cánh cửa vững chắc cho hàng Việt Nam vươn ra thị trường quốc tế.
Sự vươn mình của ngành được đo lường bằng những con số ấn tượng. Từ kim ngạch xuất khẩu khiêm tốn chỉ 200 triệu USD vào năm 2000, đến năm 2024, ngành nhựa đã đạt ngưỡng gần 10 tỷ USD, vinh dự góp mặt trong Top 10 ngành xuất khẩu lớn nhất Việt Nam. Ngành cũng đóng góp tích cực vào nền kinh tế vĩ mô, chiếm khoảng 6–7% giá trị sản xuất công nghiệp quốc gia.
Hình ảnh những nhà máy hoạt động tự động , sản phẩm nhựa “Made in Vietnam” xuất hiện trên kệ hàng ở những thị trường khó tính bậc nhất như châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ đã minh chứng cho một hành trình vượt lên bằng năng lực thực chất và tầm nhìn dài hạn của doanh nghiệp Việt.
Đặc biệt, bước sang kỷ nguyên mới, ngành nhựa Việt Nam đã chủ động đón đầu xu thế toàn cầu, định hình lại mô hình phát triển theo hướng kinh tế xanh và tuần hoàn. Đây được coi là “bước ngoặt xanh” của ngành. Nhiều doanh nghiệp đã tiên phong đầu tư vào nhựa tái chế, bao bì sinh học tự hủy và năng lượng sạch. Việc ứng dụng các dây chuyền tái chế hiện đại giúp sản xuất hạt nhựa tái sinh đạt tiêu chuẩn châu Âu, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải carbon.
Không chỉ vậy, ngành đang hướng tới mục tiêu giảm dần phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Hiện tại, ngành đã chủ động được khoảng 30% nguyên liệu đầu vào với sự đóng góp của các nhà máy trong nước như Bình Sơn, Hyosung, Long Sơn, Nghi Sơn.
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể, ngành nhựa Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Áp lực quốc tế trong việc giảm thiểu rác thải nhựa, giảm phát thải carbon và tăng sử dụng vật liệu tái chế ngày càng gia tăng.
Một thách thức nội tại là việc triển khai Cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) theo Luật Bảo vệ Môi trường 2020. Dù là công cụ then chốt thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, EPR vẫn còn gặp khó khăn do hạ tầng phân loại và tái chế chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho nhà máy tái chế cao, cùng thủ tục pháp lý phức tạp, cũng gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp.
Về thị trường, rào cản thuế quan tại các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ đã làm doanh thu ngành giảm sút, ảnh hưởng đến việc làm. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã giảm sản lượng từ 30% đến 50% và phải chia sẻ gánh nặng thuế nhập khẩu với đối tác, làm thu hẹp đáng kể lợi nhuận.
Song với phương châm “Khát vọng vươn tầm - Xây dựng một ngành nhựa Việt Nam xanh, hiện đại, hội nhập và thịnh vượng”, Chủ tịch VPA khẳng định: "Ngành nhựa sẽ hòa nhập cùng nhịp phát triển của đất nước, kiên định bước vào kỷ nguyên thịnh vượng và hội nhập. Theo đó, ngành đặt mục tiêu chủ động nguồn nguyên liệu để giảm nhập khẩu trên 70%, trong đó ngành công nghiệp hóa dầu nội địa phải được đẩy mạnh phát triển".
Ngành nhựa đang phát triển, hướng tới kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, tăng cường thu gom và tái chế rác thải nhựa, đồng thời phấn đấu tăng trưởng cao nhằm đóng góp vào mục tiêu GDP tăng trưởng hai chữ số của Chính phủ trong tương lai.
Dù dư địa hợp tác còn rất lớn nhưng kim ngạch thương mại Việt – Nga vẫn chịu nhiều áp lực từ chi phí logistics, hàng rào kỹ thuật và sự thụ động của doanh nghiệp. Để lấy lại đà tăng trưởng xuất khẩu, hàng loạt giải pháp căn cơ từ tháo gỡ chính sách đến chủ động xúc tiến thị trường cần được cấp bách triển khai...
Dòng vốn FDI từ Đức đang chảy nhiều hơn vào lĩnh vực hydrogen tại Việt Nam trong khoảng 2 năm qua. Điều gì khiến dòng vốn này tăng tốc đúng lúc này, và Việt Nam cần chuẩn bị gì để giữ chân nhà đầu tư?
Chương trình "Hàng Việt vì người Việt" giai đoạn 2026-2030 sẽ tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, xây dựng và áp dụng các tiêu chí về chất lượng, phát triển công nghiệp hỗ trợ, chuyển đổi số, hoàn thiện hệ thống phân phối và xây dựng thương hiệu...
Chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đang tạo xung lực mới để hiện thực hóa mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 150 tỷ USD vào năm 2030, đồng thời thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế Việt - Hàn chuyển dịch mạnh mẽ từ chiều rộng sang chiều sâu...
Chỉ dẫn địa lý không chỉ là “tấm vé thông hành” khẳng định uy tín sản phẩm, mà còn là công cụ nâng cao giá trị đặc sản địa phương. Tuy nhiên, để chuyển hóa lợi thế pháp lý này thành giá trị thương mại bền vững, các địa phương và doanh nghiệp cần vượt qua nhiều điểm nghẽn trong tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thị trường...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Chi phí bình quân người lao động Việt Nam phải chi trả để có việc làm ở nước ngoài giảm 23,8% trong giai đoạn 2021-2025, trong khi thu nhập bình quân ngay trong tháng làm việc đầu tiên tăng 25,4%.