
Hàng chục năm nay đã có nhiều cuộc họp, hội thảo với sự tham gia của nhiều bộ, ngành liên quan, nhưng cho đến nay việc thực hiện tiêu chuẩn cà phê Việt Nam trong giao dịch xuất nhập khẩu vẫn còn gây tranh cãi.
Đó cũng là lý do Hiệp hội cà phê - ca cao Việt Nam (Vicofa) vừa tổ chức hội thảo "Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cho cà phê nhân xuất khẩu".
Chưa bàn đến hàng loạt các tiêu chuẩn khác về mặt hàng cà phê mà Nhà nước đã ban hành, hội thảo chỉ xem xét lại quá trình xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật về cà phê nhân từ trước đến nay. Hiện đã có đến 10 tiêu chuẩn cà phê được các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thương mại, Khoa học-Công nghệ yêu cầu áp dụng.
Gần đây nhất, Việt Nam đã chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO 10470:2004 và soạn thảo thành TCVN 7932: 2007, được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố từ năm 2007. Nhưng tất cả những tiêu chuẩn đó đều không được thực hiện, thậm chí chưa được giới thiệu rộng rãi.
Trong khi đó, các hợp đồng mua bán cà phê robusta tại thị trường LIFFE đều xếp hạng cà phê dựa trên các thông số chất lượng đo bằng phần trăm khối lượng, không phải bằng tỉ lệ phần trăm số lỗi. Như vậy, cách xếp hạng theo % số lỗi mà ta đang áp dụng không được quốc tế công nhận.
Rất đông doanh nghiệp Việt Nam không muốn áp dụng TCVN 4193: 2005; các doanh nghiệp nước ngoài mua cà phê của Việt Nam cũng không muốn áp dụng tiêu chuẩn này, vì không muốn phải trả giá cao hơn. Hệ quả là cà phê xuất khẩu của Việt Nam luôn bị phàn nàn về chất lượng xấu, có lúc bị thải loại đến 60%, giá bị giảm 100 USD-200 USD/tấn, có lúc lên đến 600 USD/tấn tại London.
Lượng cà phê robusta được cấp chứng nhận chất lượng London ngày càng ít, khiến có lúc cà phê Việt Nam bị tồn kho tại London lên đến 400.000 tấn vào cuối năm 2007, đầu 2008.
Do việc áp dụng tiêu chuẩn là tự nguyện, nên rốt cuộc cho đến nay rất nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì phân hạng cà phê theo 3 tiêu chí: thủy phần %, đen vỡ %, tạp chất %. Cung cách "một mình một chợ" chẳng giống ai đó khiến cà phê nhân xuất khẩu của Việt Nam luôn luôn thăng trầm.
Ông Đoàn Triệu Nhạn, chuyên gia cao cấp của Vicofa, ủy viên Ban chấp hành ICC, cho rằng bất kể như thế nào cũng phải tiêu chuẩn hóa cà phê. Mục tiêu là cung cấp cho cả người bán và người mua một sự đảm bảo về nguồn gốc, đặc tính và chất lượng hàng hóa.
Việc tiêu chuẩn hóa cũng tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước ngăn cấm việc xuất khẩu những lô hàng cà phê có chất lượng quá thấp, không phù hợp với tiêu chuẩn và làm tổn hại đến tiếng tăm của nước sản xuất.
Ông Bùi Bá Bổng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đề nghị đẩy mạnh hướng sản xuất cà phê có chứng nhận UTZ, 4C, Global GAP, VietGap. Ông cũng hối thúc Cục Thương mại-chế biến nông-lâm sản và nghề muối thực hiện các biện pháp chấn chỉnh việc kinh doanh cà phê theo chức năng của Hiệp hội, và đề xuất đối với cơ quan nhà nước.
Có một số ý kiến cho rằng cà phê Việt Nam chất lượng kém, nên thường phải bán giá thấp hơn cà phê cùng loại của một số nước khác, như Indonesia. Đây là sự hiểu lầm, vì cà phê robusta Việt Nam chất lượng vào loại cao trên thế giới, kể cả so với Indonesia. Sở dĩ có sự hiểu lầm này là do khâu thu hái, sơ chế và phân loại cà phê ở Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Nguyên nhân chủ yếu là do nông dân không có điều kiện xây sân xi măng để phơi nên cà phê lẫn sạn, cát; do nông dân thu cả cà phê xanh; ủ cà phê trên đất dễ bị hút ẩm gây mốc... Nếu không có sự liên kết chặt chẽ, thường xuyên và liên tục giữa người trồng cà phê với doanh nghiệp, cơ quan khuyến nông, với chính quyền địa phương, đoàn thể nông thôn, thì không thể khắc phục suôn sẻ.
Chuyên gia cao cấp Đoàn Triệu Nhạn kiến nghị dành 3 tháng (từ tháng 9 - 11-2010) để khảo nghiệm chuyển sang ISO 10470:2004, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Trung tâm tiêu chuẩn chất lượng sẽ xem xét trong tháng 12/2010, sau đó ban hành qui chuẩn cà phê xuất khẩu.
Một số doanh nghiệp đầu tư lớn vào chuỗi sản phẩm cà phê chế biến và xuất khẩu kiến nghị: cần có chính sách khuyến khích xuất khẩu cà phê chất lượng cao theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tương đương; chỉ cho phép xuất khẩu tối đa 10% sản lượng cà phê chất lượng thấp; có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp có nhà máy chế biến xuất khẩu trực tiếp.
Nếu làm tốt công tác quản lý, cà phê Việt Nam sẽ tăng cả về sản lượng và chất lượng, không cần mở rộng diện tích, trừ tái canh cây cà phê.
Thứ trưởng Bùi Bá Bổng khẳng định, sơ chế cà phê ở hộ nông dân là khâu rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cà phê, vì vậy ông đề nghị các địa phương quan tâm vận dụng các chính sách đã có để hỗ trợ nông dân xây sân phơi, đặt máy sấy ở các cụm sản xuất.
Những sản vật gắn liền với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước cơ hội lớn để bước ra thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, để chuyển hóa từ lợi thế bản địa thành thương hiệu quốc tế, các doanh nghiệp và hợp tác xã không chỉ cần sản phẩm ngon, mà phải chuẩn hóa quy trình, thay đổi tư duy sản xuất và tận dụng hiệu quả các chính sách bệ phóng...
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, việc tăng cường liên kết sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu quốc gia được xem là những giải pháp cấp thiết để nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng hồ tiêu...
Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng chú trọng nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, Na Uy tiếp tục giữ vững vị thế là nguồn cung cá hồi Đại Tây Dương lớn nhất tại thị trường Việt Nam...
Trong bối cảnh rào cản thương mại, thuế quan và yêu cầu kỹ thuật ngày càng gia tăng, năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản không còn được quyết định bởi sản lượng hay giá thành. Để duy trì tăng trưởng, ngành cần giữ vững khách hàng, chủ động thích ứng với biến động chính sách, mở rộng thị trường và hình thành thêm các trụ tăng trưởng mới đủ lớn nhằm giảm thiểu rủi ro trong dài hạn...
Quy định mới của Indonesia đặt ra những quy trình kiểm định nghiêm ngặt ngay tại nước xuất xứ, đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm Halal sang nước này phải khẩn trương thích ứng để tránh rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Năm 2025, quy mô thị trường du lịch wellness toàn cầu được định giá 990,4 tỷ USD. Năm 2026, dự kiến 1.085,6 tỷ USD. Năm 2035 dự kiến 2.400 tỷ USD. Thị trường châu Á - Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm cao nhất... trong giai đoạn 2026 - 2035.