“Nghị định thư Montréal đã được quốc tế chung tay ký kết vào năm 1987, Việt Nam chính thức phê chuẩn, thông qua vào năm 1994. Trong thời gian từ đó đến nay, Việt Nam luôn song hành cùng quốc tế trong các nỗ lực loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone. Mục đích của chúng ta là loại trừ những chất làm suy giảm tầng ozone, qua đó giảm những tác động không tốt đến sức khỏe con người, góp phần phục hồi tầng ozone.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi từ công nghệ sử dụng các chất làm suy giảm tầng ozone sang những thế hệ môi chất lạnh tiếp theo, một số chất thay thế được sử dụng lại là các chất gây hiệu ứng nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao. Đây là một trong những nguyên nhân khiến Trái Đất ngày càng nóng lên.
Với mục tiêu và ý nghĩa đó, năm 2016, quốc tế một lần nữa cùng nhau thông qua Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montréal. Việt Nam cũng chính thức phê duyệt tham gia từ năm 2019. Với lộ trình từng bước chuyển đổi sang những công nghệ tốt hơn, thân thiện hơn với môi trường và khí hậu, chúng ta cũng gặp phải những yêu cầu và thách thức mới.
Đối với Việt Nam 7 năm kể từ khi phê duyệt tham gia vào năm 2019, chúng ta đã dần hình thành được những khung pháp lý và lộ trình cơ bản để định hướng cho hoạt động chuyển đổi công nghệ và những nội dung đi kèm, trong đó có các vấn đề như quản lý vòng đời môi chất lạnh và các yêu cầu, lộ trình đối với thiết bị, nhằm từng bước hạn chế các thiết bị, công nghệ sử dụng các chất có tác động xấu đến khí hậu, thay vào đó bằng những công nghệ xanh, những công nghệ tốt hơn.
So với một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, hệ thống quy định, chính sách của Việt Nam tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, có chính sách và lộ trình tương đối đầy đủ không có nghĩa là việc thực thi sẽ tự động đạt hiệu quả tương ứng, do đó, có một số vấn đề cần lưu ý.
Một là, chuyển đổi công nghệ.Đây không đơn giản chỉ là thay môi chất lạnh này bằng môi chất lạnh khác, mà còn liên quan đến việc thiết kế lại thiết bị. Ví dụ, trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý, loại trừ các chất, chúng tôi đặt vấn đề với lĩnh vực điều hòa không khí di động là chuyển sang sử dụng môi chất lạnh có GWP thấp hơn như HFO-1234yf, thay cho môi chất lạnh R-134a. Tuy nhiên, các nhà sản xuất ô tô cho biết họ cần ít nhất 5 năm, thậm chí lâu hơn, để có thể chuyển đổi thiết kế ô tô sang sử dụng môi chất lạnh mới.
Qua đó có thể thấy việc chuyển đổi công nghệ không đơn giản. Nhà nước cần có những chính sách và hỗ trợ đi kèm để doanh nghiệp có thể tiên phong và thực hiện chuyển đổi công nghệ. Thay vì chỉ tập trung vào chuyển đổi công nghệ, chúng ta có thể nghiên cứu những biện pháp, giải pháp thụ động như các chuyên gia đã chia sẻ, ngay từ quá trình thiết kế công trình, để giảm nhu cầu làm mát. Đây là một bước tích hợp mà tôi cho rằng có thể mang lại hiệu quả rất lớn về mặt chính sách.
Hai là, nâng cao hiệu suất năng lượng của thiết bị và hệ thống, qua đó cũng giúp giảm mức tiêu thụ năng lượng. Đây là những biện pháp có thể thực hiện song hành. Nghị định thư Montreal đã chỉ ra rằng nếu thực hiện giảm dần sử dụng HFC theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali kết hợp với các giải pháp tiết kiệm năng lượng đối với thiết bị thì hiệu quả đạt được sẽ gấp đôi. Đây là kết quả đã được chỉ ra trong các nghiên cứu khoa học và tính toán.
Ba là, quản lý vòng đời - vấn đề tưởng như dễ thực hiện nhất, nhưng hiện nay vẫn đang ở giai đoạn rất sơ khai. Theo quy định hiện nay, đối với môi chất lạnh không còn sử dụng, Nhà nước khuyến khích thu gom, tái sử dụng hoặc tái chế; chỉ khi không thể tái chế, không thể sử dụng lại mới mang đi tiêu hủy.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để thu gom? Hiện nay, các thiết bị có thể có vòng đời sử dụng từ 15-20 năm, thậm chí lâu hơn đối với những thiết bị lớn. Vậy, những khách hàng đang sử dụng các thiết bị hiện nay, đặc biệt là những khách hàng mua thiết bị cách đây 10-15 năm, có còn được xác định hay không?
Bên cạnh đó là chi phí thu gom cũng đặt ra rất nhiều khó khăn. Chúng tôi đã nghĩ đến việc nghiên cứu khả năng kết nối với những cơ chế trách nhiệm khác, như trách nhiệm của nhà sản xuất, trách nhiệm của nhà nhập khẩu đối với thiết bị và có thể tính thêm ngay vào giá trị ban đầu khi bán sản phẩm. Tuy nhiên, điều này cũng không dễ thực hiện vì còn liên quan đến nhiều chính sách khác của xã hội.
Để giải quyết các vấn đề như vậy, cùng với Nhà nước, cần có sự đồng hành của các nhà nghiên cứu để nghiên cứu, phát triển thêm những ứng dụng thực sự tốt và hữu hiệu. Bên cạnh đó, cần có sự tham gia của người sử dụng, bởi họ là người sử dụng cuối cùng và có những quyết định liên quan đến việc lựa chọn thiết bị. Khi người sử dụng có những lựa chọn phù hợp, chúng ta sẽ có một môi trường trong lành và tốt hơn”.
“Nhu cầu làm mát tại Việt Nam đang tăng mạnh do vấn đề nóng lên toàn cầu, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, đặc biệt gần đây là tác động của chuyển đổi số và công nghiệp công nghệ số. Hai thập kỷ qua, trong vòng 10 năm đầu, tốc độ tăng hàng năm của lĩnh vực làm mát luôn là hai con số và lớn hơn gần gấp 3 lần so với tốc độ tăng GDP trung bình của Việt Nam. Trong 10 năm trở lại đây, tốc độ tăng có giảm dần nhưng vẫn ở mức gần như gấp đôi so với tốc độ tăng trung bình của toàn bộ lĩnh vực làm mát trên toàn thế giới.
Theo số liệu của một số nghiên cứu, mức tiêu thụ điện lĩnh vực làm mát hiện đang chiếm 25,5% tổng sản lượng điện thương phẩm của Việt Nam và nếu không có giải pháp, con số này có thể tăng lên gấp 3 lần đến năm 2030. Con số này tương đồng với các đánh giá của Tổ chức Năng lượng quốc tế. Lĩnh vực làm mát của thế giới đến năm 2030 hoặc 2035 sẽ chiếm từ 25-30% tổng sản lượng điện thương phẩm, vượt qua tất cả các ngành công nghiệp truyền thống.
Tại Việt Nam cuối tháng 6/2026, vào những ngày nắng nóng nhất, công suất cực đại của hệ thống điện quốc gia đã đạt 58.000 MW, mức cao nhất từ trước đến nay, tương đương công suất của gần 60 nhà máy điện quy mô 1.000 MW vận hành đồng thời. Không những thế sản lượng điện đạt 1,222 tỷ kWh, cao hơn 9,9% so với đỉnh điểm của năm 2025.
Điều này cho thấy làm mát là một nhu cầu rất lớn và không thể thiếu, đặc biệt vào mùa nóng. Tuy nhiên, môi chất lạnh dùng trong lĩnh vực làm mát lại gây ra hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ozone rất lớn. Chúng ta càng dùng điều hòa để giảm nóng thì càng thải nhiệt ra bên ngoài nhiều. Tình trạng này kết hợp với đô thị hóa, bê tông hóa, khiến nhiệt độ của đô thị sẽ tăng từ 2-5 độ C so với các vùng xung quanh. Đây chính là hiện tượng đảo nhiệt đô thị và là vấn đề rất lớn.
Mặt khác, khi nhiệt độ ngoài trời tăng lên 1 độ C, thì tiêu thụ điện của điều hòa cũng tăng lên từ 2-4%. Một vòng luẩn quẩn khi càng dùng điều hòa làm mát, càng xả nhiều nhiệt ra ngoài; nhiệt độ càng nóng lên, càng dùng điều hòa, càng tiêu thụ nhiều điện và hệ quả lại thải nhiều khí nhà kính.
Không những thế, trong mỗi một điều hòa có môi chất lạnh (ga lạnh) tuần hoàn được ví như “dòng máu” trong cơ thể con người. Các môi chất lạnh này khi rò rỉ ra không khí có thể gây phá hủy tầng ozone, có tiềm năng gây hiệu ứng nóng lên toàn cầu (GWP) gấp từ hàng trăm tới nhiều nghìn lần so với khí CO2.
Như vậy, mặt trái của việc làm mát chính là làm cho nhiệt độ nóng lên, đảo nhiệt đô thị và xả thải khí nhà kính vào môi trường lớn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có các giải pháp làm mát bền vững, vừa phải đảm bảo nhu cầu điều hòa, làm mát cuộc sống, sản xuất cho công nghiệp, nhất là công nghiệp số nhưng không làm gia tăng tiêu thụ điện và phát thải khí nhà kính.
Việt Nam là một trong 10 nước bị ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu. Do đó, Việt Nam cần có biện pháp, chung tay với thế giới để giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu. Chúng ta phải giảm phát thải khí nhà kính trong mọi lĩnh vực, trong đó lĩnh vực phát thải nhiều nhất là năng lượng.
Về mặt kỹ thuật, việc nâng hiệu suất năng lượng của điều hòa không khí sẽ giúp tiết kiệm điện, giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính không chỉ đến từ thiết bị mà bắt đầu từ khâu quy hoạch và thiết kế công trình. Bên cạnh đó phải giảm được nhu cầu điều hòa với các phương pháp chắn bức xạ mặt trời, tăng tối đa sử dụng thông gió tự nhiên, cây xanh, mặt nước và khả năng cách nhiệt của vỏ công trình…
Tổ hợp tất cả những yếu tố này sẽ giúp giảm thụ động nhu cầu làm mát. Như vậy là chúng ta đã giảm đầu tư ban đầu, giảm chi phí về điện năng, chi phí thiết bị…
Sau khi đã có công trình tốt đòi hỏi thiết kế hệ thống kỹ thuật phải tiếp cận tiết kiệm năng lượng, sử dụng những công nghệ làm mát thân thiện môi trường. Khi thiết kế hệ thống đúng đòi hỏi phải sử dụng đúng và cuối cùng là quản lý vòng đời của môi chất lạnh.
Việc quản lý môi chất lạnh theo vòng đời là rất quan trọng bởi nhu cầu làm lạnh tiếp tục tăng lên, trong khi hạn ngạch nhập môi chất lạnh ngày càng chặt chẽ. Do đó, việc tái sử dụng môi chất lạnh vừa đảm bảo nhu cầu làm mát nhưng không làm gia tăng nhập khẩu các chất làm nóng lên toàn cầu là bài toán phải kiểm soát.
Theo thông lệ, kinh nghiệm quốc tế, các môi chất lạnh phải được kiểm soát theo vòng đời. Đến cuối mỗi vòng đời của thiết bị, môi chất lạnh phải thu hồi, tái chế. Điều này đảm bảo sẽ kiểm soát cả phát thải trực tiếp thông qua hiệu suất điện và phát thải gián tiếp thông qua rò rỉ môi chất lạnh trong cả vòng đời thiết bị.
Theo tôi, chúng ta phải nhìn câu chuyện làm mát bền vững trong một chuỗi, từ khâu quy hoạch đô thị, thiết kế các công trình, tòa nhà; bố trí các giải pháp để giảm nhiệt tòa nhà, làm mát thụ động, thiết kế và sử dụng những công nghệ làm lạnh mới; yêu cầu đào tạo tay nghề, kỹ thuật cao hơn đáp ứng yêu cầu đồi hỏi của công nghệ, và quản lý vòng đời môi chất lạnh. Tất cả các yếu tố này sẽ tạo ra giải pháp tổng thể để làm mát bền vững và giảm nhiệt đô thị.
Lĩnh vực làm mát liên quan đến nhiều bộ, ngành, tổ chức, doanh nghiệp. Ví dụ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý, kiểm soát các chất gây phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên về hiệu suất năng lượng lại nằm ở Bộ Công Thương. Trong khi đó, vấn đề đô thị, quy hoạch, tòa nhà lại thuộc Bộ Xây dựng, các tiêu chuẩn lại do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành. Để có một môi trường xanh hơn, mát lành hơn thì vai trò kiến tạo của Nhà nước, chính sách phối hợp liên ngành là rất quan trọng”.
“Trên thế giới có nhiều định nghĩa, khái niệm về công trình xanh. Ở Việt Nam, khái niệm, nội hàm công trình xanh lần đầu được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật tại Nghị định số 15/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Công trình xanh bao gồm các yếu tố chủ yếu: sử dụng năng lượng, tài nguyên tiết kiệm và hiệu quả; đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường; đảm bảo điều kiện tiện nghi, sức khỏe của người sử dụng.
Yếu tố đầu tiên đối với công trình xanh là phải sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năng lượng tiêu thụ cho làm mát chiếm khoảng trên 25% tổng tiêu thụ năng lượng của quốc gia. Trong các nghiên cứu khoa học cũng như một số dự án quốc tế đã triển khai, khi khảo sát và kiểm toán năng lượng, điện sử dụng cho thông gió làm mát và điều hòa không khí chiếm từ 40-60% tổng tiêu thụ năng lượng công trình.
Làm mát bền vững trong đô thị hay ở cấp độ dự án, công trình xây dựng có liên quan đến các khâu từ lập quy hoạch, thiết kế, lựa chọn thiết bị, vật liệu, thi công xây dựng và quản lý vận hành dự án, công trình.
Thứ nhất, với dự án xây dựng khu đô thị mới hay dự án công trình xanh, giải pháp để kiểm soát nhu cầu làm mát cũng như nhu cầu sử dụng năng lượng của dự án, công trình cần phải được quan tâm từ khâu quy hoạch. Các yêu cầu về hiệu quả năng lượng, xanh phải được tích hợp và xem xét ngay từ khâu lập quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, quy hoạch phân khu của một dự án, công trình hay một khu đô thị mới. Trong đó phải chú trọng vấn đề mật độ xây dựng, tỷ lệ diện tích cây xanh, diện tích mặt nước theo các quy chuẩn về xây dựng có liên quan, hướng công trình; làm xanh hóa mặt đệm…
Thứ hai, áp dụng thiết kế thụ động, thiết kế sinh khí hậu. Để công trình sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và đáp ứng tiêu chí công trình xanh, việc tính toán nhu cầu, thiết kế, lắp đặt và quản lý vận hành hệ thống thông gió điều hòa không khí có vai trò rất quan trọng, quyết định việc công trình có sử dụng năng lượng hiệu quả và có xanh hay không.
Từ kinh nghiệm của một số công trình thí điểm đã triển khai, khi quan tâm đến các yếu tố sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả nói chung và tính toán tải lạnh nói riêng cho điều hòa không khí, chúng ta sẽ có tiềm năng và cơ hội giảm tiêu thụ năng lượng rất lớn.
Thứ ba, lựa chọn các vật liệu, đặc biệt là vật liệu bao che, vật liệu tường, vật liệu cửa, vật liệu mái đáp ứng yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm nhu cầu năng lượng cho làm mát công trình trong giai đoạn vận hành.
Thứ tư, cần quan tâm đến kiểm soát nhiệt độ cho công trình, bao gồm cả hệ thống kỹ thuật công trình trong giai đoạn vận hành công trình. Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, hệ thống quản lý tòa nhà (BMS) ngày càng được sử dụng rộng rãi cùng với việc ứng dụng chuyển đổi số, quản lý thông minh trong tòa nhà và đô thị.
Thứ năm, kỹ năng của người quản lý vận hành các thiết bị trong công trình và ý thức của người sử dụng công trình cũng góp phần quan trọng vào việc sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả và duy trì “tiêu chuẩn xanh” của công trình.
Như vậy làm mát bền vững không phải là cắt giảm các nhu cầu làm mát mà phải hài hòa, đạt được cả hai mục tiêu, vừa sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cho làm mát, nhưng vẫn phải đảm bảo tiện nghi, điều kiện làm việc và sinh hoạt của người sử dụng.
Để phát triển công trình xanh, đô thị xanh góp phần thúc đẩy làm mát bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ozone, cần nghiên cứu, đề xuất ban hành các cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển công trình xanh theo hướng dần dần bắt buộc áp dụng theo lộ trình một số loại hình dự án, công trình xây dựng mới hoặc cải tạo lại phải đáp ứng tiêu chí và được chứng nhận công trình xanh.
Cùng với đó cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện việc dán nhãn năng lượng, nhãn xanh cho các sản phẩm, trang thiết bị cơ điện sử dụng năng lượng và một số loại vật liệu xây dựng.
Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để các dự án công trình hiệu quả năng lượng, công trình xanh, tiếp cận được nguồn tài chính xanh, tín dụng xanh trong quá trình xây dựng mới hoặc cải tạo lại, thay thế thiết bị cơ điện trong đó có hệ thống thông gió điều hòa không khí đáp ứng yêu cầu hiệu quả năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, giảm tác động môi trường.
Một yếu tố quan trọng khác đó là lồng ghép, tích hợp các mục tiêu về hiệu quả năng lượng với mục tiêu bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, quản lý môi chất lạnh, giảm tác động tầng ozone, trách nhiệm mở rộng nhà sản xuất… để mở rộng quy mô, phạm vi các dự án, công trình và các hoạt động hỗ trợ cho các dự án, công trình hiệu quả năng lượng và xanh.
Ngoài ra, cần tăng cường năng lực cho các đối tượng liên quan thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến thông tin, kiến thức, đào tạo nâng cao kỹ năng, tay nghề về sử dụng năng lượng hiệu quả, bảo vệ môi trường, giảm phát thải…”.
“Công nghệ và thị trường điều hòa không khí đang thay đổi rất nhanh trước sức ép của ba yếu tố xảy ra cùng lúc: yêu cầu tiết kiệm năng lượng; giảm phát thải khí nhà kính; đồng thời phải bảo đảm chi phí vận hành thực sự hiệu quả và tiết kiệm.
Đối với Daikin, chúng tôi cho rằng tương lai của ngành điều hòa không khí không chỉ là mang lại môi trường tiện nghi và cảm giác thoải mái cho người sử dụng, mà còn phải góp phần giảm nhu cầu tiêu thụ điện năng và hỗ trợ phát triển bền vững. Những yếu tố này đang thúc đẩy các nhà sản xuất điều hòa như chúng tôi đầu tư mạnh vào những công nghệ tiên tiến, nhằm giảm nhu cầu tiêu thụ năng lượng cũng như tác động đến môi trường.
Chẳng hạn, chúng tôi đầu tư các công nghệ tiên tiến như: máy inverter hiệu suất cao, hệ thống điều khiển thông minh tích hợp AI cho các công trình dân dụng và thương mại, hệ thống cảm biến để tối ưu hóa vận hành. Đồng thời, chúng tôi cũng hướng tới sử dụng các thiết bị có môi chất lạnh với chỉ số GWP thấp để giảm tác động đến môi trường và tầng ozone.
Tại Việt Nam, hiện nay các dòng điều hòa dân dụng và thương mại trên thị trường đã sử dụng hầu hết môi chất lạnh R32, kết hợp với công nghệ inverter hiệu suất cao. Môi chất lạnh R32 có tác động tốt hơn tới môi trường, đồng thời hiệu suất làm lạnh cao hơn so với ga R410A. Do đó, sản phẩm sử dụng R32 sẽ yêu cầu lượng môi chất lạnh nạp vào thấp hơn so với R410A, qua đó có tác động tích cực hơn đối với môi trường. Bên cạnh lợi ích kinh tế, việc sử dụng máy điều hòa có hiệu suất cao và môi chất lạnh có chỉ số GWP thấp cũng mang lại những lợi ích về môi trường và xã hội.
Chúng tôi cho rằng đây là một giải pháp toàn diện, mang lại lợi ích cho cả ba bên. Đối với người tiêu dùng, sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí hơn. Đối với nhà sản xuất như chúng tôi, đây là cơ hội giới thiệu ra thị trường những công nghệ tiên tiến hơn. Còn ở góc độ xã hội, chúng ta sẽ được hưởng lợi từ một môi trường bền vững hơn.
Tuy nhiên, để đưa các giải pháp làm mát hiệu suất cao và sử dụng môi chất lạnh thân thiện với khí hậu từ một lựa chọn đặc biệt trở thành lựa chọn phổ biến hơn, có một số yếu tố quyết định chính.
Trước hết là cơ chế, chính sách và tiêu chuẩn. Đây là những yếu tố có vai trò thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi. Thời gian qua, chúng ta đã có các quy định về hiệu suất năng lượng tối thiểu, chương trình dán nhãn năng lượng cho các sản phẩm sử dụng và tiêu thụ điện năng, các tiêu chuẩn công trình xanh, cũng như lộ trình chuyển đổi sang các sản phẩm sử dụng môi chất lạnh thân thiện với khí hậu. Khi những tiêu chuẩn này được áp dụng phổ biến và rộng rãi trên thị trường, các công nghệ hiệu quả sẽ dần trở thành mặt bằng chung, không còn là một lựa chọn đặc biệt.
Tiếp theo là nhận thức của thị trường. Trong giai đoạn 2012-2016, Daikin Việt Nam là đơn vị tiên phong đưa dòng sản phẩm dân dụng sử dụng môi chất lạnh mới R32 vào thị trường Việt Nam. Khi đó, chúng tôi đã tổ chức nhiều khóa đào tạo cho kỹ thuật viên về lắp đặt sản phẩm an toàn, hiệu quả, đồng thời tổ chức các hội thảo, chương trình chia sẻ với chuyên gia, đối tác, nhà thầu và khách hàng nhằm nâng cao nhận thức về việc sử dụng môi chất lạnh mới.
Trong giai đoạn tới, chúng tôi cũng có nguyện vọng chuyển đổi các sản phẩm thương mại có công suất lớn hơn, chẳng hạn hệ thống VRV, VRF, sang sử dụng môi chất lạnh R32. Với kế hoạch này, chúng tôi mong muốn có sự tham gia của các cơ quan nhà nước, các trường cao đẳng/đơn vị đào tạo nghề trên toàn quốc và các hãng sản xuất điều hòa để hỗ trợ đào tạo kỹ thuật viên, nhà lắp đặt các hệ thống này, tạo điều kiện thuận lợi cho những dòng sản phẩm điều hòa mới.
Một yếu tố khác rất quan trọng là khả năng tiếp cận. Khi quy mô sản xuất các dòng điều hòa mới tăng lên và chuỗi cung ứng dần hoàn thiện, chi phí của những công nghệ tiên tiến này có xu hướng giảm. Điều đó tạo điều kiện để người tiêu dùng và doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm có công nghệ mới, nhiều lợi ích hơn với chi phí hợp lý hơn.
Nhìn chung, tôi cho rằng cần có sự phối hợp của tất cả các bên liên quan, từ cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia khoa học đến các đơn vị tư vấn thiết kế. Ngay từ khâu tư vấn thiết kế sản phẩm, cần hướng tới những sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao và thân thiện với môi trường. Khi đó, nhà sản xuất và người tiêu dùng cũng sẽ được hưởng lợi”.
“Trong thiết kế công trình, các giải pháp thiết kế thụ động có thể giúp giảm tải nhiệt và nhu cầu sử dụng điều hòa ngay từ đầu. Đầu tiên là khâu quy hoạch cần giải quyết bài toán dưới góc nhìn tổng thể, trong đó bao gồm cả yếu tố môi trường. Một công trình được thiết kế tốt chắc chắn phải nằm trong một tổng thể quy hoạch tốt, từ tỷ lệ, mật độ cây xanh, tầng cao đến cách bố trí, phân bổ khối nhà trong tổng mặt bằng. Tất cả đều giúp tối ưu hướng công trình, chưa kể các yếu tố khác liên quan như hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và thông gió tổng thể toàn khu.
Tiếp đến là hướng nhà, ưu tiên Nam - Đông Nam, tránh mặt lớn hướng Tây, nơi có bức xạ nắng chiều gay gắt. Đây là nguyên tắc cơ bản nhưng vẫn thường bị bỏ qua hoặc khó áp dụng ở các công trình nhà ở đô thị và nhà ống.
Bên cạnh đó, cách phân bổ không gian cũng có thể giúp giảm lượng nhiệt trực tiếp vào công trình. Ví dụ, với nhà ống, nhà liền kề - loại hình phổ biến nhất ở các đô thị Việt Nam - có thể tận dụng giếng trời, sân trong để lấy sáng và thông gió tự nhiên xuyên suốt chiều sâu nhà, qua đó giảm sự phụ thuộc vào điều hòa cho các phòng trung tâm.
Tuy nhiên, trước khi nói đến việc làm thế nào để một dự án có những giải pháp thiết kế thụ động hay công trình xanh, chúng ta có thể lật ngược lại vấn đề: đâu là những rào cản khiến những giải pháp đó bị loại bỏ hoặc không được ưu tiên?
Thứ nhất, trong câu chuyện về thiết kế, kiến trúc hay xây dựng, các chủ đầu tư luôn chịu áp lực phải tối ưu hóa diện tích xây dựng. Ai cũng muốn có diện tích sử dụng lớn nhất để có thể cho thuê hoặc sử dụng. Chính vì thế, những không gian không tạo ra lợi nhuận trực tiếp như giếng trời, hành lang đệm, không gian chắn nắng… rất dễ bị loại bỏ. Dù những không gian này không trực tiếp sinh ra tiền, nhưng chúng góp phần tạo nên sự hài hòa về vi khí hậu, giúp tăng giá trị cho các không gian thương mại chính.
Thứ hai, dưới góc độ quy chuẩn, tiêu chuẩn của Nhà nước, Quy chuẩn QCVN 09:2017/BXD (sắp được thay thế bằng QCVN 04-3:2026/BXD, có hiệu lực từ 01/02/2027) về công trình hiệu quả năng lượng hiện chủ yếu tập trung vào các công trình có quy mô lớn, trên 2.500 m2 sàn. Trong khi đó, các công trình nhà ở riêng lẻ, vốn chiếm tỷ trọng không nhỏ, hiện lại chưa được đề cập đến.
Thứ ba, thói quen sử dụng những thiết kế lặp đi lặp lại. Những bản vẽ có sẵn, được modul hóa, được áp dụng trên phạm vi lớn và đại trà thường không được tối ưu về thông gió và chiếu sáng cho từng lô đất cụ thể.
Những vấn đề về kỹ thuật này chính là những rào cản mà người làm thiết kế thường gặp phải khi chủ đầu tư đặt ra yêu cầu tối ưu hóa dự án.
Để một dự án tiếp tục giữ được phương án thiết kế thụ động hoặc áp dụng công trình xanh, điều đầu tiên là chủ đầu tư phải nghĩ đến vấn đề này ngay từ đầu. Bài toán tiết kiệm năng lượng, áp dụng công trình xanh không nên là một giải pháp được bổ sung thêm hay một yêu cầu bất ngờ xuất hiện trong quá trình thiết kế. Khi được tính toán ngay từ đầu, những yêu cầu đó sẽ được đưa vào lộ trình của dự án và sẽ khó bị loại bỏ trong quá trình phát triển dự án.
Tiếp đến là cần có yếu tố ràng buộc. Ví dụ, khi chủ đầu tư cam kết công trình của mình đi theo một tiêu chí công trình xanh như LEED, LOTUS hay EDGE, tức là họ đã đăng ký với một bên thứ ba rằng công trình sẽ thực hiện theo những tiêu chí đó. Các tiêu chí này đã được lượng hóa, cụ thể hóa và chỉ rõ trong từng bản vẽ, thuyết minh thiết kế hay chỉ định vật tư của công trình. Vì vậy, sẽ rất khó để loại bỏ những tiêu chí đó trong quá trình phát triển dự án.
Một yếu tố nữa cũng rất quan trọng là cần có sự đồng thuận giữa kiến trúc sư, kỹ sư cơ điện và đơn vị vận hành công trình để đưa ra một phương án tối ưu nhất trong việc xử lý tiện nghi nhiệt cho công trình.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ tài chính. Ở các nước phát triển, cơ chế hỗ trợ tài chính đóng vai trò quan trọng, ví dụ như tín dụng xanh, tăng mật độ hoặc chiều cao công trình, hay hoàn thuế cho những dự án đạt tiêu chí công trình xanh. Nếu Việt Nam áp dụng được những cơ chế tài chính như vậy, tôi tin rằng việc phát triển nhanh các công trình xanh hay tiết kiệm năng lượng sẽ không còn là vấn đề quá khó.
Cuối cùng là bài toán đào tạo. Không chỉ trong trường đại học, giới làm nghề cũng cần liên tục cập nhật những vấn đề liên quan đến tiết kiệm năng lượng và công trình xanh. Công nghệ hiện nay thay đổi rất nhanh, vì vậy cần có các chương trình đào tạo thường xuyên và những văn bản hỗ trợ cho người làm nghề, để việc áp dụng các quy chuẩn tiêu chuẩn mới trở nên thuận lợi hơn”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 37-2026 phát hành ngày 14//2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-37-2026.html
Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...
Ngành du lịch thiên văn toàn cầu được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thập niên tới do quá trình đô thị hóa và nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với những trải nghiệm ngắm bầu trời đêm đích thực.
Tự chủ công nghệ không nên được đo bằng số lượng sản phẩm “Make in Vietnam” được công bố, mà bằng giá trị những sản phẩm đó tạo ra và quan trọng hơn, Việt Nam có thêm bao nhiêu quyền lựa chọn khi môi trường kinh tế, công nghệ toàn cầu biến động… Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Hà Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghệ G-Group, về câu chuyện tự chủ công nghệ của Việt Nam trong kỷ nguyên AI và hội nhập quốc tế.
Ngày 10/12/2025, Quốc hội chính thức thông qua Luật Quy hoạch (sửa đổi), đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy xây dựng và kiến tạo chính sách. Không chỉ tháo gỡ những vướng mắc pháp lý, luật mới được kỳ vọng giải quyết các “nút thắt” tồn tại nhiều năm trong phát triển thị trường bất động sản, từ xung đột quy hoạch, thiếu không gian phát triển nhà ở xã hội đến tình trạng “quy hoạch treo”.
Các cơ chế, chính sách về nhà ở của Đảng và Nhà nước hiện nay đều nhấn mạnh việc phải phát triển đa dạng, đồng bộ các phân khúc: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách và nhà ở công vụ. Qua đó, đảm bảo mọi người dân đều có thể tiếp cận chỗ ở phù hợp với khả năng chi trả một cách công bằng, minh bạch. Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, khi những chính sách này đi vào cuộc sống, thị trường nhà ở sẽ phát triển thực chất hơn, cung – cầu cân đối và giá nhà sẽ bình ổn…
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Chiều 14/9, tại tỉnh Quảng Trị, lượng mưa lớn có xu hướng dịch chuyển ra phía Bắc. Trong khi đó, tại phía Nam tỉnh, mưa đã giảm, mực nước các sông, suối đang xuống, tạo điều kiện để chính quyền và các lực lượng chức năng khẩn trương hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả.