VnEconomy
VnEconomy

Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone được thông qua năm 1985 và Nghị định thư Montreal ra đời năm 1987 đã thiết lập cơ chế kiểm soát và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone trên toàn cầu. Việt Nam tham gia Công ước và Nghị định thư từ năm 1994. Xin ông cho biết những kết quả quan trọng của Việt Nam trong triển khai thực hiện Công ước Vienna, Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali?

Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal từ năm 1994. Sau hơn 30 năm Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nghĩa vụ theo cam kết và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Những kết quả nổi bật có thể nhìn nhận trên ba phương diện.

Thứ nhất, Việt Nam từng bước xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ tầng ozone. Các quy định về quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát đã được nội luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn. Đặc biệt, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý từ khâu nhập khẩu, sử dụng đến thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý.

Thứ hai, Việt Nam đã thực hiện đúng lộ trình kiểm soát, loại trừ các chất được kiểm soát. CFC, Halon và CTC đã được loại trừ hoàn toàn; HCFC-141b nguyên chất trong sản xuất xốp cũng đã được loại trừ. Hiện Việt Nam tiếp tục thực hiện lộ trình loại trừ HCFC, với mức tiêu thụ trong giai đoạn 2025-2029 không vượt quá 32,5% mức cơ sở, tương ứng hạn ngạch nhập khẩu 1.300 tấn/năm. Sau khi phê duyệt Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019, từ năm 2024 Việt Nam bắt đầu quản lý HFC theo hạn ngạch nhập khẩu, thực hiện lộ trình giảm dần việc sử dụng các chất này.

Thứ ba, việc thực hiện Nghị định thư Montreal đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ tại doanh nghiệp, đồng thời góp phần đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ kỹ thuật trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí. Việt Nam cũng đang mở rộng cách tiếp cận, từ kiểm soát tiêu thụ môi chất lạnh sang quản lý theo vòng đời, thúc đẩy thu gom, tái chế và tái sử dụng môi chất lạnh từ các thiết bị khi hết thời gian sử dụng.

Theo thống kê của Ban Thư ký Ozone, việc thực hiện Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa phát thải khoảng 260 triệu tấn CO2 tương đương. Kết quả này cho thấy các hoạt động bảo vệ tầng ozone không chỉ góp phần bảo vệ tầng ozone mà còn đồng thời mang lại những lợi ích đáng kể cho khí hậu.

VnEconomy

Sau hơn 30 năm thực hiện Nghị định thư Montreal, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi mới như thế nào khi vừa tiếp tục loại trừ HCFC, vừa bắt đầu thực hiện lộ trình giảm dần HFC trong bối cảnh nhu cầu làm mát ngày càng tăng, thưa ông?

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi khi vừa tiếp tục loại trừ HCFC, vừa bắt đầu thực hiện lộ trình giảm dần HFC theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, trong khi nhu cầu làm mát phục vụ đời sống và phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục gia tăng.

Trong bối cảnh đó, bài toán không thể chỉ dừng ở việc thay thế một môi chất lạnh bằng một môi chất khác. Nếu nhu cầu làm mát tiếp tục tăng nhanh, trong khi thiết bị có hiệu suất thấp hoặc hệ thống vận hành không hiệu quả, áp lực tiêu thụ năng lượng và phát thải vẫn sẽ rất lớn.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt hai con số, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu và tầm quan trọng của chuyển đổi xanh nhằm phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Vì vậy, việc quản lý và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, các chất gây hiệu ứng nhà kính cần được đặt trong một bài toán tổng thể, với các giải pháp đồng bộ. Cách tiếp cận này cần bắt đầu từ khâu quy hoạch, thiết kế công trình, hướng tới tạo ra những không gian sống mát mẻ, hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu suất sử dụng của thiết bị và hệ thống; thay thế các chất có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu (GWP) cao bằng các môi chất lạnh có GWP thấp, phù hợp với yêu cầu an toàn và từng ứng dụng; đồng thời tăng cường quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời và nâng cao năng lực của đội ngũ kỹ thuật.

Đây cũng là cách chúng tôi tiếp cận khái niệm “làm mát bền vững”: không chỉ đơn thuần làm mát bằng một môi chất khác, mà là đáp ứng nhu cầu làm mát với mức tiêu thụ năng lượng và tác động đến khí hậu thấp hơn.

VnEconomy

Thưa ông, bên cạnh việc kiểm soát và giảm dần lượng môi chất lạnh được đưa vào thị trường, vì sao Việt Nam cần tiến tới quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời?

Là thành viên của Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện lộ trình loại trừ HCFC và giảm dần HFC. Hạn ngạch nhập khẩu là một trong những công cụ quan trọng để kiểm soát và từng bước giảm lượng HCFC và HFC nguyên sinh được đưa vào thị trường Việt Nam.

Tuy nhiên, một lượng đáng kể môi chất lạnh đã được đưa vào sử dụng và hiện đang tồn tại trong các thiết bị, hệ thống lạnh và điều hòa không khí. Trong quá trình lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa hoặc khi thiết bị hết thời gian sử dụng, lượng môi chất này có nguy cơ rò rỉ hoặc phát thải trực tiếp ra môi trường nếu không được quản lý đúng cách.

Mặt khác, trong khi nguồn cung môi chất lạnh nguyên sinh được kiểm soát và giảm dần theo lộ trình, môi chất lạnh đã qua sử dụng nếu được thu hồi, tái chế, tái sinh và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật có thể được đưa trở lại sử dụng. Việc tận dụng nguồn môi chất này không chỉ giúp hạn chế phát thải ra môi trường mà còn góp phần giảm nhu cầu đối với môi chất lạnh nguyên sinh, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí.

Do đó, trong thời gian tới, cần tập trung nâng cao năng lực và chất lượng thực hành của kỹ thuật viên; tăng cường thu hồi môi chất lạnh; từng bước phát triển mạng lưới thu gom, vận chuyển và lưu giữ; nâng cao năng lực tái chế, tái sinh và xử lý phù hợp; đồng thời tăng cường theo dõi, báo cáo để quản lý tốt hơn dòng môi chất lạnh trong suốt vòng đời.

Có thể nói, chúng ta đang chuyển từ việc chủ yếu kiểm soát nguồn môi chất lạnh nguyên sinh đưa vào thị trường sang cách tiếp cận quản lý toàn bộ vòng đời môi chất lạnh. Cách tiếp cận này vừa hỗ trợ thực hiện lộ trình loại trừ HCFC và giảm dần HFC, vừa giúp quản lý hiệu quả lượng môi chất đã được đưa vào sử dụng, hạn chế phát thải và từng bước đưa những môi chất có khả năng tái sử dụng trở lại vòng tuần hoàn.

VnEconomy

Từ góc độ cơ quan quản lý, Cục đang triển khai những chính sách, giải pháp nào để kết nối các mắt xích trong chuỗi làm mát bền vững - từ thiết kế công trình, công nghệ, đào tạo nhân lực đến quản lý và thu hồi môi chất lạnh? Thời gian tới, đâu sẽ là những ưu tiên để các giải pháp này được mở rộng và thực hành phổ biến tại Việt Nam?

Hiện nay, hệ thống chủ trương, chính sách về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính ở Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện. Chúng ta sẽ triển khai quyết liệt, đồng bộ các quy định cũng như các kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó, trọng tâm là Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, được Thủ tướng Chính phủ ban hành theo Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024.

Kế hoạch đề ra lộ trình và các giải pháp cụ thể, bao gồm quản lý các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính; kiểm soát thiết bị chứa các chất này; quản lý vòng đời từ sử dụng, thu hồi đến tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy; đồng thời thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững trong quy hoạch và thiết kế công trình. Việc triển khai đồng bộ và bảo đảm sự liên kết giữa các nhóm giải pháp là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả thực hiện Kế hoạch.

Thời gian qua, cùng với việc từng bước hoàn thiện khung chính sách về quản lý các chất được kiểm soát, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình, dự án hỗ trợ chuyển đổi công nghệ, nâng cao năng lực kỹ thuật và thúc đẩy thu hồi, tái sử dụng, tái chế môi chất lạnh. Đây là những nền tảng quan trọng để từng bước hình thành cách tiếp cận quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời.

Tuy nhiên, làm mát bền vững là một bài toán liên ngành. Giảm nhu cầu làm mát liên quan đến quy hoạch, thiết kế công trình và các giải pháp thụ động; nâng cao hiệu quả làm mát phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị và phương thức vận hành; trong khi chuyển đổi sang các môi chất lạnh thân thiện hơn với khí hậu đòi hỏi phải đồng thời đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, an toàn và năng lực của đội ngũ kỹ thuật viên. Quản lý vòng đời môi chất lạnh cũng cần sự tham gia của nhiều chủ thể, từ sử dụng, sửa chữa, bảo dưỡng đến thu hồi, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý.

Vì vậy, trong giai đoạn tới, một trong những ưu tiên là tăng cường kết nối giữa các mắt xích này, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi chính sách; tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật cần thiết; phát triển năng lực đội ngũ kỹ thuật; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và các tổ chức liên quan.

Mục tiêu là từng bước đưa các giải pháp làm mát bền vững vào thực tiễn, mở rộng quy mô áp dụng và hướng tới trở thành thông lệ phổ biến trên thị trường Việt Nam.

VnEconomy

Để triển khai hiệu quả quản lý các chất làm suy giảm tầng ozone, các chất gây hiệu ứng nhà kính và thúc đẩy làm mát bền vững, sự tham gia của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng. Vậy cơ quan quản lý nhà nước có những giải pháp gì để hỗ trợ, tạo động lực và thu hút doanh nghiệp đầu tư, áp dụng các giải pháp làm mát bền vững, thưa ông?

Sự tham gia của doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định để các mục tiêu về quản lý các chất được kiểm soát và làm mát bền vững được triển khai trên thực tế và nhân rộng trên thị trường. Vì vậy, điều quan trọng là vừa tiếp tục hoàn thiện khung chính sách, vừa tạo động lực kinh tế và các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp chủ động tham gia.

Về chính sách, sau khi Việt Nam tham gia Cam kết làm mát toàn cầu năm 2023, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát tại Quyết định số 496/QĐ-TTg. Kế hoạch xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về làm mát bền vững. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP tiếp tục thể chế hóa khái niệm “làm mát bền vững” và bổ sung các chính sách khuyến khích đối với hoạt động này.

Cùng với đó, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh đã tạo cơ sở để các dự án làm mát bền vững đáp ứng tiêu chí được xem xét, xác nhận thuộc danh mục phân loại xanh. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước kết nối các mục tiêu về khí hậu, môi trường với các nguồn tài chính xanh.

Bên cạnh hoàn thiện chính sách, chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường phổ biến, hướng dẫn thực hiện các quy định; phối hợp đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực kỹ thuật; đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực về tài chính, công nghệ và kinh nghiệm để hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi.

Về phía doanh nghiệp, động lực tham gia không chỉ đến từ yêu cầu tuân thủ hoặc các chính sách hỗ trợ. Đầu tư vào các giải pháp làm mát hiệu quả hơn có thể giúp giảm chi phí năng lượng, chủ động trước lộ trình chuyển đổi môi chất lạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những cơ hội kinh doanh mới. Khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp cũng có thêm cơ sở để tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và các nguồn vốn ưu đãi quốc tế.

Vì vậy, mục tiêu của chúng tôi là từng bước tạo lập môi trường chính sách và thị trường thuận lợi để làm mát bền vững không chỉ được nhìn nhận như một yêu cầu về môi trường, mà trở thành một lựa chọn đầu tư có hiệu quả kinh tế, qua đó tạo động lực để doanh nghiệp chủ động tham gia và nhân rộng các giải pháp trên thị trường.

VnEconomy

Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước phát triển thị trường carbon, cơ hội nào cho các dự án làm mát bền vững có thể tham gia tạo tín chỉ carbon, khai thác nguồn tài chính carbon?

Thị trường carbon có thể mở thêm một kênh tài chính cho một số dự án làm mát bền vững. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng một hoạt động tạo ra kết quả giảm phát thải không đồng nghĩa với việc đương nhiên có thể tạo ra tín chỉ carbon.

Trong lĩnh vực làm mát, giảm phát thải có thể đến từ hai nhóm chính.

Một là, giảm phát thải gián tiếp thông qua tiết kiệm năng lượng, chẳng hạn sử dụng hệ thống điều hòa hiệu suất cao, tối ưu hóa hệ thống lạnh trong kho lạnh hoặc ứng dụng công nghệ làm mát hiệu quả hơn tại các trung tâm dữ liệu.

Hai là, giảm phát thải trực tiếp từ môi chất lạnh, chẳng hạn chuyển đổi từ các môi chất có GWP cao sang các môi chất có GWP thấp hơn, hoặc hạn chế phát thải thông qua thu gom, tái chế và xử lý phù hợp.

Để kết quả giảm phát thải có thể được chuyển thành tín chỉ carbon, dự án phải đáp ứng phương pháp được công nhận, chứng minh tính bổ sung, xác định đường cơ sở và thực hiện đầy đủ các yêu cầu về đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV).

Do đó, tài chính carbon nên được nhìn nhận là một nguồn tài chính bổ sung có tiềm năng đối với một số dự án, chứ không phải là nguồn thu mặc định của mọi dự án làm mát bền vững. Điều quan trọng là ngay từ khâu thiết kế dự án, các chủ đầu tư cần đánh giá khả năng đáp ứng các yêu cầu về phương pháp luận, đo đạc, báo cáo và thẩm định để xác định rõ tiềm năng tiếp cận nguồn tài chính này.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 37-2026 phát hành ngày 14//2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-37-2026.html

VnEconomy

Du lịch thiên văn: Cơ hội vàng trên bầu trời đêm

Ngành du lịch thiên văn toàn cầu được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong thập niên tới do quá trình đô thị hóa và nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với những trải nghiệm ngắm bầu trời đêm đích thực.

Tự chủ công nghệ để Việt Nam thêm quyền lựa chọn

Tự chủ công nghệ không nên được đo bằng số lượng sản phẩm “Make in Vietnam” được công bố, mà bằng giá trị những sản phẩm đó tạo ra và quan trọng hơn, Việt Nam có thêm bao nhiêu quyền lựa chọn khi môi trường kinh tế, công nghệ toàn cầu biến động… Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Hà Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghệ G-Group, về câu chuyện tự chủ công nghệ của Việt Nam trong kỷ nguyên AI và hội nhập quốc tế.

Luật Quy hoạch (sửa đổi): Khơi thông nguồn lực quốc gia

Ngày 10/12/2025, Quốc hội chính thức thông qua Luật Quy hoạch (sửa đổi), đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy xây dựng và kiến tạo chính sách. Không chỉ tháo gỡ những vướng mắc pháp lý, luật mới được kỳ vọng giải quyết các “nút thắt” tồn tại nhiều năm trong phát triển thị trường bất động sản, từ xung đột quy hoạch, thiếu không gian phát triển nhà ở xã hội đến tình trạng “quy hoạch treo”.

Nguồn cung nhà ở sẽ đa dạng, giá sẽ bình ổn hơn

Các cơ chế, chính sách về nhà ở của Đảng và Nhà nước hiện nay đều nhấn mạnh việc phải phát triển đa dạng, đồng bộ các phân khúc: nhà ở thương mại, nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách và nhà ở công vụ. Qua đó, đảm bảo mọi người dân đều có thể tiếp cận chỗ ở phù hợp với khả năng chi trả một cách công bằng, minh bạch. Theo GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, khi những chính sách này đi vào cuộc sống, thị trường nhà ở sẽ phát triển thực chất hơn, cung – cầu cân đối và giá nhà sẽ bình ổn…

Kinh tế Việt Nam sau 81 năm độc lập: Những bước chuyển lịch sử và khát vọng trong kỷ nguyên mới

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao cho dân tộc Việt Nam quyền lựa chọn, kiến tạo con đường phát triển kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân. Từ thời khắc ấy, khát vọng độc lập gắn liền với khát vọng xây dựng một quốc gia tự chủ, giàu mạnh, trong đó thành quả phát triển phải nâng cao đời sống và mở rộng cơ hội tiến bộ cho mọi người dân.

Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy