Theo Bản tin mới nhất của Hiệp hội Lương thực Việt Nam
(VFA), trong tháng 12/2025 có 32 tàu vào cảng TP.Hồ Chí Minh xếp khoảng 239.600
tấn gạo, chủ yếu xuất sang Philippines; phần còn lại đi châu Phi và Malaysia.
Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất, song mức độ ổn định không còn như
trước do nước này tăng can thiệp nội địa và điều chỉnh chính sách nhập khẩu.
GIÁ GẠO VẪN CHƯA CÓ DẤU HIỆU TĂNG
Trong tháng 12/2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 340 nghìn
tấn gạo, kim ngạch đạt 189 triệu USD. Như vậy, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam
trong tháng 12 đạt bình quân 555 USD/tấn.
Ở trong nước, VFA cho biết vụ Thu
Đông 2025 tại Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch gần xong với sản lượng khoảng
3,45 triệu tấn. Vụ Đông Xuân 2025–2026 đã xuống giống khoảng 42% diện tích kế
hoạch. Nguồn cung nội địa nhìn chung ổn định, song đầu ra xuất khẩu kém thuận lợi
khiến giá lúa chịu áp lực.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đầu tháng 12/2025
nằm ở nhóm trung bình cao, nhưng giảm nhẹ về cuối tháng khi nguồn cung toàn cầu
tăng mạnh.
Vào những ngày cuối tháng 12/2025, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam dao động 420-460 USD/tấn; Jasmine 446- 450 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 11/2025. Gạo trắng 5% tấm giữ ở mức 360-365 USD/tấn. Giao dịch chững lại do cuối vụ thu hoạch tại Đồng bằng sông Cửu Long và nhu cầu nhập khẩu chưa phục hồi rõ rệt.
Các thương nhân lo ngại năm 2026 sẽ khó khăn hơn khi
Philippines có thể tái áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, còn Indonesia - thị trường
mua lớn trước đây, hiện gần như rút khỏi thị trường do dư cung nội địa. Trong
khi đó, Ấn Độ duy trì nguồn cung lớn và tiếp tục tạo sức ép cạnh tranh lên giá
gạo toàn cầu.
Tại Ấn Độ, giá gạo xuất khẩu tăng lên 350-357 USD/tấn, mức
cao nhất gần ba tháng do giá nội địa tăng trong khi nhu cầu quốc tế vẫn yếu.
Thái Lan giữ giá gạo 5% tấm ở mức 410 USD/tấn, nhưng nhu cầu đã chững lại từ
sau Giáng sinh, chủ yếu giao các hợp đồng đã ký trước đó.
Bangladesh vừa phê
duyệt mua 50.000 tấn gạo từ Ấn Độ với giá gần 360 USD/tấn trong bối cảnh giá gạo
nội địa nước này đã tăng 15-20% trong một năm qua, bất chấp tăng nhập khẩu và
giảm thuế. Điều này cho thấy áp lực lạm phát lương thực vẫn hiện hữu tại nhiều
quốc gia.
NHỮNG TÍN HIỆU ĐẦU NĂM 2026
Một tín hiệu tích cực là Philippines sẽ mở lại nhập khẩu
từ đầu năm 2026 với hạn mức ban đầu khoảng 500.000 tấn. Tuy nhiên, thuế nhập khẩu
tăng từ 15% lên 20% từ ngày 16/1/2026 và tổng lượng nhập cả năm giảm xuống còn
khoảng 3,6-3,8 triệu tấn, thấp hơn năm 2024 khoảng 1 triệu tấn. Điều này cho thấy
thị trường vẫn mở nhưng cạnh tranh gay gắt hơn và biên lợi nhuận bị thu hẹp.
Hiện nhiều doanh nghiệp Philippines đã đặt hàng
sớm cho đầu năm mới; châu Phi và Trung Quốc cũng quay lại mua gạo sau thời gian chững
lại. Đáng chú ý, Thái Lan vừa ký hợp đồng lớn 500.000 tấn với Trung Quốc, tạo thêm tín hiệu tích cực cho thương mại gạo khu vực.
Tại Philippines, theo USDA Post, sản lượng lúa niên vụ 2025/26 dự báo giảm
nhẹ xuống 19,6 triệu tấn do ảnh hưởng bão và hạn chế sau thu hoạch. Tuy nhiên,
tiêu thụ tiếp tục tăng, đạt khoảng 17,6 triệu tấn gạo xay xát, phản ánh mức độ
phụ thuộc cao của nước này vào cả nguồn cung trong nước và nhập khẩu.
Nhập khẩu gạo của Philippines năm tài khóa 2025/26 dự báo
giảm còn khoảng 4,4 triệu tấn, giảm gần 19% so với năm trước do lệnh cấm nhập
khẩu trong 4 tháng cuối năm 2025 để bảo vệ nông dân. Việt Nam vẫn là nhà cung cấp
lớn nhất, tiếp theo là Myanmar và Thái Lan.
Thị trường tiêu thụ gạo lớn
khác là Indonesia, hiện đang trong trạng thái dư cung sâu. Theo Hãng thông tấn
quốc gia Indoneia (Antara), dự trữ gạo quốc gia nước này dự báo đạt kỷ lục 3,5
triệu tấn vào cuối năm 2025, mức cao nhất kể từ khi giành độc lập, hoàn toàn
không dựa vào nhập khẩu. Sản lượng gạo của Indonesia năm 2025 ước đạt 34,79 triệu
tấn, tăng 13,6% so với năm trước.
Chính phủ Indonesia đã chỉ đạo Bulog (Cơ quan Hậu cần Quốc
gia Indonesia) tăng mạnh thu mua nội địa, với
chỉ tiêu 4 triệu tấn gạo trong năm 2026 (so với 3 triệu tấn năm 2025) và 1 triệu
tấn ngô, nhằm hỗ trợ nông dân và tăng dự trữ an ninh lương thực. Điều này khiến
khả năng Indonesia quay lại nhập khẩu gạo trong ngắn hạn là rất thấp.
Gạo “xanh”, gạo giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, canh
tác tiết kiệm nước và giảm phát thải methane được dự báo sẽ là lợi thế cạnh
tranh chủ lực của Việt Nam trong giai đoạn tới. Các mô hình sản xuất bền vững
giúp doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn các thị trường khó tính, đồng thời phù hợp
xu hướng tiêu dùng mới.
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như
Philippines và Indonesia thu hẹp, việc chuyển hướng sang phân khúc cao cấp được
xem là chiến lược sống còn. EU, Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc đang là những thị
trường mục tiêu cho gạo chất lượng cao, gạo đặc sản và sản phẩm chế biến.
Giống gạo ST25 tiếp tục được vinh danh “ngon nhất thế giới”,
mở ra dư địa lớn cho phân khúc cao cấp tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc; gạo
Japonica đẩy mạnh vào Nhật Bản. Nhiều doanh nghiệp cũng tăng xuất khẩu các sản
phẩm chế biến sâu như bún, phở khô, cơm đóng hộp – những mặt hàng có giá trị
gia tăng cao hơn nhiều so với gạo thô.
Nhìn chung, năm 2026 mở ra cơ hội nhưng không còn “dễ
ăn”. Xuất khẩu gạo Việt Nam buộc phải chuyển từ tăng sản lượng sang nâng chất
lượng, từ cạnh tranh giá sang cạnh tranh giá trị và bền vững, nếu muốn giữ vững
vị thế trong bối cảnh thị trường toàn cầu dư cung và cạnh tranh ngày càng khốc
liệt.