Theo đánh giá, đây là bước điều chỉnh quan trọng trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang phát triển theo hướng hiện đại, an toàn sinh học và hội nhập quốc tế, đòi hỏi cơ chế quản lý linh hoạt, rõ ràng và phù hợp thực tiễn.
Một trong những nội dung đáng chú ý là quy định về đăng ký lưu hành thuốc thú y. Thông tư đã làm rõ quy trình thẩm định hồ sơ, theo đó cơ quan chuyên môn trực tiếp tiếp nhận, đánh giá và tổ chức Hội đồng khoa học chuyên ngành để xem xét. Hội đồng này họp định kỳ ít nhất 3 tháng/lần nhằm đánh giá kết quả thẩm định, kiểm nghiệm, khảo nghiệm và đề xuất cấp Giấy chứng nhận lưu hành.
Đặc biệt, thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể. Cụ thể, hồ sơ đối với thuốc thú y sản xuất để xuất khẩu hoặc gia công giảm từ 20 ngày xuống còn 10 ngày. Với thuốc được miễn khảo nghiệm hoặc chế phẩm sinh học phục vụ chẩn đoán, thời gian giảm từ 40 ngày xuống còn 30 ngày. Đối với thuốc mới, vaccine, kháng thể và thuốc có nguồn gốc dược liệu, thời gian xử lý được rút từ 6 tháng xuống còn 4 tháng.
Những thay đổi này được kỳ vọng đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về thuốc thú y, đặc biệt là vắc xin và chế phẩm sinh học phục vụ phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi. Đồng thời, việc đơn giản hóa thủ tục sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong nghiên cứu, sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường.
Thông tư cũng bổ sung quy định cụ thể về gia hạn Giấy chứng nhận lưu hành thuốc thú y. Theo đó, trong vòng 14 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý phải hoàn tất việc thẩm định và gia hạn nếu đáp ứng yêu cầu. Trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch và bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp, hạn chế tình trạng chậm trễ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, quy trình cấp và cấp lại giấy phép khảo nghiệm thuốc thú y cũng được quy định rõ ràng hơn. Cụ thể, thời gian cấp mới giấy phép là 17 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trong khi việc cấp lại được thực hiện trong vòng 5 ngày làm việc. Nếu không cấp phép, cơ quan quản lý phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Việc chuẩn hóa thành phần hồ sơ và quy trình xử lý được kỳ vọng sẽ giúp công tác thẩm định diễn ra thống nhất, thuận lợi, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, phát triển thuốc thú y trước khi đưa vào lưu hành.
Thông tư 15/2026/TT-BNNMT được xem là bước hoàn thiện quan trọng trong khung pháp lý của lĩnh vực thú y. Các quy định mới không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sản xuất thuốc thú y trong nước. Việc triển khai hiệu quả Thông tư sẽ góp phần nâng cao chất lượng thuốc thú y lưu hành trên thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm và hướng tới sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi Việt Nam.
Thụy Điển vừa công bố chiến lược đẩy nhanh cấp phép khai thác các kim loại chiến lược và đất hiếm nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Quốc...
TP. Hồ Chí Minh sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ đầu mối từ kiểm soát nguồn hàng, truy xuất nguồn gốc, lấy mẫu giám sát đến ứng dụng công nghệ trong quản lý, hướng tới xây dựng các chợ đầu mối đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chợ đầu mối kinh doanh thực phẩm...
Trước áp lực giá thế giới tăng vọt, trong kỳ điều hành ngày 23/7, giá xăng dầu trong nước đồng loạt tăng mạnh. Để kìm hãm đà tăng, liên Bộ quyết định chi sử dụng Quỹ bình ổn từ 1.000 - 1.500 đồng/lít…
Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành thép Việt Nam bứt phá với mức tăng trưởng về sản xuất và tiêu thụ đạt hai con số, trong đó thép cuộn cán nóng (HRC) đóng vai trò động lực chính. Dù vậy, ngành vẫn đối mặt với thách thức lớn từ biến động giá nguyên liệu và áp lực phòng vệ thương mại tại các thị trường xuất khẩu...
Nông dân ngày nay không chỉ cần am hiểu kỹ thuật mà còn phải biết tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường, đáp ứng các quy định xuất khẩu và ứng dụng công nghệ số. Vì vậy, công tác khuyến nông cần chuyển đổi từ hướng dẫn kỹ thuật sang tư vấn phát triển vùng sản xuất nông nghiệp bền vững...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.