
Thanh khoản liên tục sụt giảm những ngày gần đây khiến nhà đầu tư có cảm giác thị trường đang thiếu tiền. Tuy nhiên, luôn có biện pháp để kiểm chứng độ mạnh của dòng tiền.
Lịch sử lặp lại
Thông thường, việc thắt chặt tiền tệ dẫn đến những diễn biến không thuận lợi trên thị trường chứng khoán. Năm 2009, chính sách kích cầu tạo nên những đột biến của thị trường chứng khoán làm nảy sinh rất nhiều nghi vấn về việc dòng vốn “lỏng” này chạy vào chứng khoán. Rất khó để định lượng việc dòng vốn tăng lên là do vốn mới tự có hay vốn từ kênh ngân hàng, ngoại trừ số liệu thống kê về tăng trưởng cho vay đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên đòn bẩy tăng lên là một yếu tố hỗ trợ rất mạnh cho dòng tiền.
Chính sách thắt chặt từ đầu năm nay thậm chí còn “khắc nghiệt” hơn với chứng khoán khi xác định rõ ràng định hướng giảm dòng vốn vào kênh đầu tư này. Hiệu ứng của chính sách đối với thị trường ít nhất thể hiện ở hai điểm quan trọng. Thứ nhất, “đánh” vào kỳ vọng tăng trưởng của doanh nghiệp, từ đó hạ kỳ vọng tăng trưởng của giá cổ phiếu. Thứ hai, hạn chế đòn bẩy khiến lượng vốn sẵn sàng giao dịch giảm đi.
Yếu tố kỳ vọng luôn là động lực đối với thị trường và tạo ra mối quan hệ mật thiết với các “loại tiền” của nhà đầu tư. Khi kỳ vọng tăng trưởng thấp, tỉ trọng danh mục sẽ được ưu tiên nghiêng về phía tiền mặt, hoặc không mua thêm khiến thanh khoản giảm. Thị trường ảm đạm, giá giảm khiến nhà đầu tư không sử dụng nhiều đòn bẩy vì rủi ro quá cao. Dòng vốn nằm im tạo cảm giác thiếu tiền nhưng thực chất là mức độ sẵn sàng giao dịch giảm. Nhà đầu tư chờ đợi một xu hướng cải thiện rõ ràng hơn mới đẩy mạnh mua vào, hoặc tạm thời chuyển vốn sang kênh cất giữ hiệu quả hơn như gửi tiết kiệm kỳ hạn ngắn.
“Nghi án” đỡ NAV
Cường độ giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài tạo một số diễn biến tốt cuối tháng 3 vừa qua đã làm nổi lên nhận xét về khả năng làm đẹp giá trị tài sản ròng (NAV) của các quỹ. Tuy nhiên, mức độ mua ròng của khối ngoại thực tế cũng không có nhiều biến động và phụ thuộc vào tình trạng chung của thị trường hơn là chỉ đỡ NAV.
Thống kê trong tuần cuối tháng 3, tổng lượng vốn mua ròng trên cả hai sàn khoảng 212,26 tỷ đồng. Đây là mức tương đối cao so với 91,6 tỷ đồng tuần giữa tháng. Tuy nhiên, trước đó khối ngoại cũng đã có một tuần bán ròng 129,3 tỷ đồng. Riêng tại HSX, khối ngoại bán ròng qua khớp lệnh kéo dài từ đầu tháng 2 đến 21/3 mới chấm dứt.
Do đó, việc mua vào tăng lên trong tuần trước mang màu sắc của hoạt động “cover” lại danh mục hơn là để chốt NAV. Ba phiên đầu tháng 4, hoạt động giải ngân của nhà đầu tư nước ngoài vẫn bình thường, không đủ lớn để chiếm thị phần chi phối nhưng vẫn quanh mức 10% giá trị. Đặc biệt là giá trị bán từ đầu tháng đến nay rất thấp, tại HSX chỉ bình quân 14,4 tỷ đồng.
Dòng tiền hay kỳ vọng?
Trong quá khứ, những thời điểm thị trường bi quan nhất, chán nản nhất thường thanh khoản cũng rất thấp. Giá trị giao dịch giảm mạnh dẫn đến kết luận “vội vã” rằng dòng tiền cạn kiệt. Tuy nhiên, quan trọng hơn là mặt bằng của giá đang ở mức nào, đã đủ rẻ để khích lệ lòng tham hay chưa.
Sự bi quan ở thời điểm cùng cực thường được khuếch đại, cũng như sự hưng phấn thường quá “lố” ở thời điểm cao trào. Thanh khoản lớn lúc giá tăng dài và mạnh được xem là tốt, dù rất có thể đỉnh đang ở gần đâu đó. Thậm chí những đợt hồi giá khi vừa rời đỉnh được coi là “điều chỉnh cần thiết”. Ngược lại, khối lượng thấp ở vùng giá rất thấp sau một thời gian dài giảm được cho là dòng vốn cạn kiệt, dù không ai có thể nắm được chính xác lượng tiền mặt trong các tài khoản là bao nhiêu.
Một thực tế là trong bất cứ hoàn cảnh nào thị trường cũng vẫn có thanh khoản. Người bán luôn nghĩ mình bán đi rủi ro, trong khi người mua cho rằng mình đang mua cơ hội. Thanh khoản chỉ thay đổi do chiến thuật mua từng thời điểm khác nhau. Hiện tại, thị trường tràn ngập thông tin xấu và không khí bi quan là chủ đạo. Độ kỳ vọng tăng trưởng đang thấp hơn nhiều so với độ ngại rủi ro. Người mua quá cẩn trọng, chỉ mua giá thấp hoặc chờ đợi một sự buông xuôi của người bán.
Cách tốt nhất để kiểm tra lòng tham cũng như dòng tiền đang “ngủ”, là một mức giá đủ rẻ hay một điểm rơi tâm lý bi quan nhất.




10 cổ phiếu này thuộc các nhóm ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông, thực phẩm - đồ uống, bán lẻ, xăng dầu, dầu khí và bất động sản.
VNPRIVGRO bao gồm 30 cổ phiếu thành phần được lựa chọn từ rổ chỉ số VNAllshare, đáp ứng các tiêu chí sàng lọc về thanh khoản và tỷ lệ sở hữu nhà nước, với tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhà nước không vượt quá 15%.
Báo cáo thường niên cho năm tài chính kết thúc ngày 30/6/2026, VietNam Holding Limited (VNH) cho biết năm qua vẫn là một năm đáng thất vọng xét về hiệu suất tương đối.
PYN Elite cho rằng thị trường đã vận động theo cách khó lý giải khi nhiều cổ phiếu của các doanh nghiệp lớn, có thanh khoản cao và công bố kết quả kinh doanh xuất sắc lại phần lớn giảm giá.
Tỷ trọng của Bất động sản trong danh mục các quỹ có xu hướng tăng rõ rệt. Tỷ trọng ngành này tăng từ 13% năm 2023 lên 14% năm 2024 và đạt 20% vào năm 2025.
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) cảnh báo nhà đầu tư và người dân về việc một số đối tượng đang giả mạo HOSE, sử dụng trái phép tên, hình ảnh và logo của HOSE.