[Bài 3] Tìm lối ra cho doanh nghiệp “chết lâm sàng”
PPhương Linh
Chọn cỡ chữ
Theo các chuyên gia, doanh nghiệp đã gặp khó khăn, không còn doanh thu, dòng tiền nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể vẫn có thể tiếp tục đối mặt với các nghĩa vụ và chi phí phát sinh. Bài toán đặt ra không chỉ là thu đủ mà còn phải phân loại đúng để doanh nghiệp “chết chưa khai tử được” có thể rời thị trường một cách phù hợp…
Cần một lối ra cho doanh nghiệp “chết chưa chôn”. Ảnh: Thuý Hằng
Như VnEconomy đã thông tin, không ít doanh nghiệp đã
ngừng hoạt động trong thời gian dài nhưng vẫn chưa thể hoàn tất thủ tục giải
thể, chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Khi pháp nhân chưa được xác lập trạng thái
chấm dứt, những nghĩa vụ gắn với quá trình hoạt động vẫn có thể tiếp tục được
đặt ra, trong khi người đại diện theo pháp luật có thể phải chịu thêm sức ép từ
các biện pháp quản lý thuế.
Tất nhiên, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp là điều
không thể phủ nhận. Khi chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục
tạm ngừng hoặc giải thể, đồng thời hoàn tất các nghĩa vụ về thuế, kế toán, hóa
đơn và đăng ký doanh nghiệp.
Việc tự ý bỏ địa chỉ kinh doanh, không thông báo
với cơ quan chức năng rồi để pháp nhân tồn tại trên hệ thống là sai sót của chủ
doanh nghiệp và phải được xử lý theo quy định. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ không
phải doanh nghiệp nào cũng có cùng bản chất và mức độ rủi ro.
KHÔNG THỂ “CÁ MÈ MỘT LỨA” DOANH NGHIỆP “BỎ TRỐN” VỚI MẮC KẸT
Có
doanh nghiệp cố tình mua bán hóa đơn, trốn thuế, giả mạo thông tin, tẩu tán tài
sản hoặc bỏ trốn để né tránh nghĩa vụ với Nhà nước. Nhưng cũng có những doanh
nghiệp nhỏ thất bại trong kinh doanh, không còn doanh thu, dòng tiền; chủ doanh
nghiệp thiếu hiểu biết pháp luật hoặc không đủ khả năng tài chính để xử lý các
thủ tục sau khi đóng cửa. Hai
nhóm này nếu bị xử lý theo cùng một cách sẽ khó phản ánh đúng bản chất vi phạm.
Theo bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư
vấn thuế Việt Nam, cách xử lý cần dựa trên bản chất và mức độ rủi ro của từng
nhóm doanh nghiệp.
Với những trường hợp thực tế không còn hoạt động sản
xuất, kinh doanh, không phát sinh doanh thu, chi phí, không sử dụng hóa đơn và
không nợ thuế nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế do thiếu hiểu biết hoặc
bỏ quên thủ tục, có thể nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài và tiền chậm
nộp, đồng thời không xử phạt việc chậm nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian
doanh nghiệp thực tế không hoạt động. Thay vào đó, tập trung xử lý hành vi
không thông báo ngừng kinh doanh, không thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã
số thuế.
Trong khi
đó, những trường hợp có dấu hiệu gian lận, mua bán hóa đơn, thành
lập doanh nghiệp “ma”, sử dụng thông tin giả hoặc bỏ địa chỉ kinh doanh để trốn
thuế cần được kiểm soát và xử lý nghiêm. Phân
loại đúng bản chất của từng nhóm doanh nghiệp sẽ giúp nguồn lực quản lý được
tập trung vào những trường hợp thực sự có rủi ro, thay vì dàn đều cho tất cả hồ
sơ, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế
Việt Nam cho biết.
Tuy nhiên, lật
ngược lại vấn đề, một điểm nghẽn lớn là làm thế nào xác định doanh nghiệp thực
sự đã rời thị trường và doanh nghiệp nào đang cố tình “treo” pháp nhân để né
tránh nghĩa vụ.
Ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas
“Phần lớn trường hợp là doanh nghiệp không còn kinh doanh nhưng do thủ tục kéo dài, phức tạp nên chủ doanh nghiệp dần bỏ cuộc. Cũng có trường hợp doanh nghiệp từng liên hệ với cơ quan chức năng để làm thủ tục nhưng việc xử lý không hoàn tất, sau đó hồ sơ bị để lại. Do đó, rất khó xác định một cách cụ thể doanh nghiệp không hoàn tất thủ tục là do cố tình hay do những nguyên nhân khách quan”.
Theo ông Lê Văn Tuấn,
Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, nếu chỉ phân loại doanh nghiệp theo
tiêu chí “vô tình” hay “cố tình” bỏ trôi doanh nghiệp thì rất khó đánh giá
chính xác. Lỗi của chủ doanh nghiệp là điều không thể phủ nhận, nhưng nguyên nhân
khiến doanh nghiệp dừng hoạt động không chỉ xuất phát từ một phía.
Trong bối cảnh đó, thời gian dài không phát sinh doanh thu, hóa đơn, giao
dịch có thể là những dấu hiệu để xác định doanh nghiệp đã thực sự rời thị
trường. Nếu dữ
liệu quản lý đầy đủ, cơ quan
thuế có thể căn cứ vào dữ liệu trên hệ thống, trong đó có thời điểm ghi nhận
doanh nghiệp không còn hoạt động, để xác định trạng thái và có hướng xử lý phù
hợp.
Đây là vấn đề có ý nghĩa không chỉ đối với việc “làm
sạch” dữ liệu mã số thuế. Nếu
một doanh nghiệp đã thực tế rời thị trường nhưng về mặt pháp lý vẫn bị coi là
đang tồn tại, các nghĩa vụ gắn với trạng thái pháp lý đó có thể tiếp tục phát
sinh. Lệ phí môn bài là một trong
những vấn đề thể hiện rõ nghịch lý này.
Theo ông Tuấn, về bản chất lệ phí môn bài là
loại phí hành chính phải nộp khi được cơ quan Nhà nước cung cấp dịch vụ công
khi ra hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, quy định hiện hành chỉ xác định
trường hợp doanh nghiệp thực hiện thủ tục tạm ngừng kinh doanh đúng quy định
thì được miễn lệ phí môn bài trong thời gian tạm ngừng. Đồng nghĩa, nếu doanh nghiệp thực tế đã ngừng
hoạt động nhưng không hoàn tất thủ tục theo quy định, khoản lệ phí này vẫn tiếp tục được ghi nhận trong các năm sau đó.
Do đó, ông
Tuấn đề xuất nếu doanh nghiệp thực tế không còn hoạt động kinh doanh thì
cần nghiên cứu lại việc áp dụng lệ phí môn bài trong khoảng thời gian đó. Khi
doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm thì lệ phí này không nên tiếp tục
phát sinh mới, tránh
tình trạng cộng dồn gây khó khăn cho doanh
nghiệp khi hoàn tất thủ tục
giải thể.
CÔNG BẰNG KHÔNG CHỈ LÀ "THU ĐỦ"
Theo
ông Tuấn, cách tiếp cận này không tạo ra sự không công bằng hay mở thêm “khe hở”
để doanh nghiệp né tránh nghĩa vụ. Điều quan trọng là phải phân biệt giữa nghĩa
vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh thực tế và những nghĩa vụ phát sinh đơn
thuần do doanh nghiệp chưa hoàn tất thủ tục rời khỏi hệ thống.
Doanh
nghiệp vẫn đang hoạt động thì phải kê khai, nộp thuế và hoàn thành các nghĩa vụ
tài chính theo quy định. Doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải thể thì được xác
lập rõ trạng thái pháp lý và không tiếp tục phát sinh các nghĩa vụ gắn với hoạt
động kinh doanh sau thời điểm chấm dứt.
Vấn đề
nằm ở nhóm doanh nghiệp nằm giữa hai trạng thái: trên thực tế đã chấm dứt hoạt
động nhưng về mặt thủ tục chưa hoàn tất việc rời khỏi hệ thống. Vì chưa có quyết định pháp lý xác nhận
thời điểm chấm dứt, doanh nghiệp vẫn có nguy cơ tiếp tục phát sinh các nghĩa vụ
kê khai, lệ phí và xử lý hồ sơ.
Nếu vòng luẩn quẩn này kéo dài, nghĩa vụ phát sinh và hồ sơ tồn đọng
ngày càng lớn khiến chi phí giải thể tăng lên; khả năng chủ
doanh nghiệp hoàn tất thủ tục càng giảm. Trong khi đó, pháp nhân vẫn tồn tại và
tiếp tục nằm trong diện phải quản lý.
Số lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh đang nằm trong
diện phải rà soát cũng đặt ra câu hỏi về cách xử lý. Nếu hàng trăm nghìn doanh nghiệp và hộ kinh doanh thực sự rơi vào tình trạng này hoàn toàn do người
kinh doanh cố tình không tuân thủ, trách nhiệm thuộc về chủ doanh nghiệp là điều
khó có thể phủ nhận.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguyên nhân không chỉ xuất
phát từ phía doanh nghiệp, trong khi hệ quả cuối cùng vẫn quay trở lại với
chính người kinh doanh, từ các nghĩa vụ tài chính tồn đọng đến những biện pháp
quản lý như tạm hoãn xuất cảnh, không được sử dụng hóa đơn hoặc gặp vướng mắc
trong một số giao dịch.
Khi đó, câu hỏi về sự công bằng không chỉ nằm ở việc
có thu đủ các khoản nghĩa vụ hay không, mà trước hết là nghĩa vụ đó có được xác định
đúng với bản chất và hoàn cảnh của từng trường hợp hay không.
Theo ông Tuấn, khi đánh giá chính sách đối với nhóm
doanh nghiệp đã thực tế rời thị trường, cần tính đến cả chi phí để thực thi
chính sách và những hệ quả xã hội phát sinh trong quá trình đó.
Trước hết là chi phí để hoàn thành chiến dịch làm sạch
mã số thuế. Bên cạnh nguồn lực của cơ quan quản lý, còn có thời gian của doanh
nghiệp, chi phí thuê dịch vụ kế toán, pháp lý, khôi phục hồ sơ, hoàn thiện tờ
khai, xử lý hóa đơn và các khoản chi phí khác phát sinh do quá trình kéo dài. Nếu
doanh nghiệp đã không còn hoạt động và không còn nguồn thu, mỗi khoản chi phí bổ
sung đều có thể trở thành một rào cản thực tế đối với việc hoàn tất thủ tục.
Xa hơn, cách xử lý đối với những doanh nghiệp thất bại
cũng có thể tác động đến tâm lý của những người có dự định khởi nghiệp.
Kinh doanh có thể thất bại và đó vốn là một phần của
hoạt động thị trường. Nhưng nếu sau thất bại, chi phí để rời khỏi thị trường
quá lớn và kéo dài, người kinh doanh có thể phải cân nhắc thêm một loại rủi ro
khác: rủi ro của chính việc đóng cửa.
“Về cơ bản, người kinh doanh có thể chấp nhận việc kiệt quệ tài chính do thua lỗ, bởi đó là rủi ro của hoạt động kinh doanh. Nhưng nếu một người đã thất bại, không còn hoạt động, không còn nguồn thu mà tiếp tục bị đẩy vào tình trạng kiệt quệ bởi chính các khoản phạt, phí và chi phí tuân thủ để được rời khỏi thị trường thì không nên”
Do đó, bất kỳ lựa chọn chính sách nào cũng cần hướng tới khả năng khắc phục
hậu quả, không đẩy người nộp thuế vào tình trạng kiệt quệ tài chính và vẫn để họ
có cơ hội làm lại sau thất bại. Điều này không có nghĩa là miễn nghĩa vụ hoặc tạo ra
một “lối thoát” cho doanh nghiệp vi phạm.
Với trường hợp chậm nộp hồ sơ khai thuế, ông Tuấn đề
xuất có cơ chế xử lý phù hợp đối với các tờ khai không phát sinh nghĩa vụ thuế,
đặc biệt có thể xem xét giảm nhẹ mức xử phạt. Tuy nhiên, việc tháo gỡ các khoản phí, tiền phạt
không có nghĩa là miễn nghĩa vụ thuế. Những khoản nợ thuế thực tế đã phát sinh
vẫn phải được xử lý theo quy định pháp luật.
Lãi suất vay thế chấp nhà ở Mỹ đang tiến gần mức 7% lần đầu tiên kể từ đầu năm ngoái, tạo thêm áp lực đối với những người đang có ý định mua nhà ở nước này, giữa lúc họ đã phải đối mặt với giá nhà cao kỷ lục và một nền kinh tế không chắc chắn...
Giá vàng thế giới tăng mạnh trong phiên giao dịch ngày thứ Năm (17/9), hồi phục sau ba phiên giảm liên tiếp, nhờ sự hỗ trợ từ giá dầu, tỷ giá đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ đồng loạt suy yếu...
Trong 8 tháng đầu năm 2026, Hải quan phát hiện 29 vụ buôn lậu thuốc lá, thu giữ hơn 132.000 bao thuốc lá điếu và 135.000 sản phẩm thuốc lá điện tử. Các vụ việc cho thấy hàng lậu đang được đưa vào những phương thức vận chuyển, cất giấu đa dạng hơn, đặt ra yêu cầu tăng cường nhận diện rủi ro ngay từ sớm…
Trong phiên 17/9, giá vàng miếng SJC giảm phổ biến 700 nghìn đồng/lượng, tương đương 0,47% so với giá chốt phiên 16/9. Đối với vàng nhẫn, giảm từ 0,34% - 0,47%, ngược chiều so với mức tăng 1,23% trên thị trường thế giới…
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Theo Nghị quyết, sẽ không truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện: Không tham nhũng; Vì lợi ích chung; Các hoạt động: đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội...
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...