
Những con số tăng trưởng GDP ấn tượng và vị thế "điểm đến hấp dẫn" của Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra một luồng sinh khí lạc quan. Tuy nhiên, khi đặt lên bàn cân so sánh một cách kỹ lưỡng với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, chúng ta lại thấy một bức tranh nhiều nghịch lý: một nền kinh tế năng động, bận rộn bậc nhất khu vực Đông Nam Á như Việt Nam nhưng khả năng tích lũy nội lực còn thấp so với nhu cầu phát triển của kỷ nguyên mới...
Năm 2025, GDP đầu người của Việt Nam đạt khoảng 5.026 USD, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2020 và tăng tới 3,1 lần so với năm 2010. Còn GDP đầu người của Thái Lan năm 2025 khoảng 7.500 USD, gấp 1,5 lần GDP đầu người của Việt Nam.
Mặc dù ngay cả Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan (TDRI) mới đây đã cảnh báo mục tiêu Thái Lan trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2036 "gần như không thể đạt được" và có thể bị các nước ASEAN vượt qua, khoảng cách giữa Thái Lan với Việt Nam vẫn là một quãng đường dài đặc đặc biệt là khoảng cách về chất lượng.
Tại Thái Lan, hệ thống hạ tầng và giá cả dịch vụ cơ bản được điều tiết bởi các tập đoàn nội địa khổng lồ, giúp giảm chi phí sinh hoạt ví dụ như giá thực phẩm tại Thái Lan rẻ hơn Việt Nam từ 15-20% nhờ tối ưu hệ thống nông nghiệp và chuỗi bán lẻ phân phối (CP, Central Group).
Tại Việt Nam, do phụ thuộc vào hệ thống phân phối nhỏ lẻ và chi phí logistics chiếm tới 16-20% GDP (so với 11-13% của Thái Lan), giá hàng hóa đến tay người tiêu dùng bị đẩy lên cao, trực tiếp bào mòn thu nhập thực tế.
Người Thái còn được hưởng lợi chi phí sinh hoạt do có một hệ thống phúc lợi y tế gần như miễn phí và sở hữu hệ thống Skytrain/MRT kết nối xuyên suốt và giá rẻ giúp người dân vùng ven có thể di chuyển vào trung tâm làm việc với chi phí thấp và thời gian chính xác.
Một trong những thống kê ấn tượng gần đây là việc Việt Nam đang trên đà chiếm ngôi vị số 1 về du lịch của Thái Lan tại khu vực ASEAN. Tuy nhiên, nhìn sâu vào cơ cấu doanh thu, chúng ta chưa thể đuổi kịp về giá trị ròng.
Năm 2025, du lịch Thái Lan đón khoảng 33 triệu lượt khách quốc tế, mang về nguồn thu ngoại tệ khoảng 1.530 nghìn tỷ Baht (tương đương 49,4 tỷ USD). Chi tiêu bình quân của khách quốc tế tại Thái Lan ở mức cao (khoảng 1.500 - 1.600 USD/khách) nhờ hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng và mua sắm khép kín.
Trong khi đó, năm 2025, Việt Nam đạt mốc 21,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế nhưng tổng thu ngoại tệ chỉ khoảng 18 - 20 tỷ USD (bình quân 900 – 1000 USD/khách, bằng 66% con số này tại Thái Lan).
Một phần nguồn thu này lại chảy ra khỏi Việt Nam dưới dạng phí hoa hồng, phí thanh toán quốc tế trả cho các tập đoàn đa quốc gia khi khách đặt qua app (Klook, Agoda, Trip.com).
Nếu tính cả chi phí nhập khẩu thực phẩm, năng lượng của các địa điểm lưu trú, số ngoại tệ thực sự ở lại trong nước bị hao đi đáng kể. Tóm lại, chúng ta phải phục vụ lượng khách quốc tế khổng lồ, gây áp lực rất lớn lên hạ tầng, môi trường và các di sản nhưng giá trị tích lũy ròng thấp hơn Thái Lan rất nhiều.
Theo báo cáo của Q&Me năm 2025, doanh số ô tô nội địa của Việt Nam đạt khoảng 604 nghìn xe, thu hẹp khoảng cách với Thái Lan (khoảng 632 nghìn xe) xuống còn chưa tới 30 nghìn xe mặc dù khoảng cách này từng là 370 nghìn xe trong năm 2023.
Đúng là doanh số xe bán ra tại Việt Nam đã tiệm cận Thái Lan nhưng nếu xét đến doanh số xuất khẩu và nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu ô tô lại cho ta thấy hai thế giới khác biệt.
Thái Lan thực sự là “Detroit của Đông Nam Á”. Năm 2025, theo số liệu từ Bangkok Post, ngành ô tô nước này xuất khẩu 936 nghìn chiếc, mang về doanh thu ngoại tệ khoảng 20 tỷ USD (chưa tính linh kiện). Với tỷ lệ nội địa hóa trung bình đạt 80 - 90% giúp Thái Lan có thể giữ lại khoảng 40% giá trị thặng dư.
Trong khi đó, ngành ô tô Việt Nam vẫn loay hoay với tỷ lệ nội địa hóa thấp, phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu và hầu như không có sản phẩm xuất khẩu mang về ngoại tệ cho đất nước.
Ngược lại, chúng ta dùng ngoại tệ để nhập khẩu linh kiện và hình thức bán xe trả góp chiếm tới 40 - 50% lượng khách hàng, phần lớn là giới trung lưu đang vật lộn với chi phí sinh hoạt gia tăng, nợ thẻ tín dụng và vay mua nhà.
Trong xu thế tỷ giá biến động và lãi suất tăng, những điểm yếu này đang bào mòn nguồn dự trữ ngoại tệ của đất nước, suy giảm biên lợi nhuận của nhà sản xuất xe và có thể khiến những chiếc xe trả góp trở thành “nợ xấu” của ngân hàng.
Nhờ sở hữu nguồn ngoại tệ dồi dào và kinh nghiệm vận hành hệ thống phong phú, các tập đoàn bán lẻ của Thái Lan không chỉ bảo vệ "sân nhà" mà còn dùng ngoại tệ tích lũy thâu tóm các siêu thị, chuỗi bán lẻ, hãng thực phẩm tại các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.
Những thương vụ tỷ USD như Central Group mua lại BigC (nay là GO!) với giá 1,14 tỷ USD, TCC Group mua lại Metro Cash & Carry Việt Nam với giá gần 800 triệu USD, ThaiBev mua Sabeco với giá xấp xỉ 5 tỷ USD, F&N Dairy Investments sở hữu gần 25% cổ phần Vinamilk đã biến người Thái thành một "ông chủ" lớn trong mạng lưới phân phối của Việt Nam.
Dòng tiền tiêu dùng của người Việt hàng ngày đang âm thầm chảy về túi các ông chủ người Thái, biến chúng ta thành những người làm giàu cho nước bạn trên chính đất nước mình.
Từ ký ức “đau đớn” về cuộc khủng hoảng năm 1997, Thái Lan đã kiên trì xây dựng "pháo đài" ngoại hối lên tới 300 tỷ USD (tương đương 10 tháng nhập khẩu) trong khi chúng ta vẫn dao động quanh ngưỡng tối thiểu theo chuẩn IMF.
Nền tảng giúp Thái Lan duy trì dự trữ ngoại hối lớn chính là khả năng tối ưu hóa dòng ngoại tệ thực ròng: nhờ tỷ lệ nội địa hóa cao, họ giữ lại được phần lớn giá trị thặng dư trong chuỗi xuất khẩu thay vì để dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài qua nhập khẩu linh kiện hoặc trở thành lợi nhuận của các tập đoàn đa quốc gia.
Nghịch lý nằm ở chỗ, chúng ta dễ dàng bùng nổ hân hoan sau một trận bóng đá thắng Thái Lan nhưng lại hoàn toàn thờ ơ trước việc đang bị dẫn rất sâu trên mặt trận tích lũy.
Thắng lợi sân cỏ hay thứ hạng FIFA là liều “doping tinh thần” ngắn hạn nhưng không giúp ổn định tỷ giá, cũng không thể tạo nên “tấm khiên” chống đỡ cho quốc gia trước những biến động khó lường về tiền tệ cũng như cung cấp nguồn lực ngoại tệ đầu tư vào các lĩnh vực trọng yếu và công nghệ.
Từ sự so sánh trên một số lĩnh vực với Thái Lan một cách kỹ càng, Việt Nam cần nhìn lại để thay đổi tư duy và cách làm từ tập trung vào "số lượng" sang "hiệu suất và chất lượng", từ gia công sang nội địa hóa và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.
Đã đến lúc gạt bỏ những niềm tự hào về số lượng để bồi đắp nội lực thực chất. Nếu không, chúng ta sẽ vẫn là quốc gia năng động bậc nhất Đông Nam Á nhưng khả năng tích lũy vẫn xếp sau rất xa các nước láng giềng.
(*)Hồng Hà- chuyên gia độc lập.




Tạp chí Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV diễn ra sáng 20.7, tại Hà Nội.
Sáng 20/7/2026, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XIV đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội.
Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tập trung xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Việc ký kết Quy chế phối hợp công tác giữa Kiểm toán nhà nước và các địa phương là một minh chứng cho sự cam kết mạnh mẽ của các bên trong việc đảm bảo tính minh bạch trong quản lý tài chính công nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm toán, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội...
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp diễn ra ngày 18/7, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp trong và ngoài nước đã thẳng thắn chỉ ra những "điểm nghẽn" cố hữu về thể chế, logistics, năng lượng và chuỗi cung ứng…
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.