
Báo cáo Ngành bán lẻ tại Việt Nam “Mô hình đa kênh (Omnichanel) cất cánh” được Deloitte Việt Nam phát hành ngày 5/10 đã chỉ ra một số xu hướng chuyển đổi trong ngành bán lẻ Việt Nam giai đoạn sau đại dịch.
Theo Deloitte, hầu hết người tiêu dùng Việt Nam ở khu vực thành thị đã quen với tiêu dùng trên nhiều kênh, bao gồm: các cửa hàng truyền thống, website của nhãn hàng, nền tảng trao đổi của bên thứ ba và ứng dụng giao đồ ăn, sau khi cân nhắc các yếu tố về thời gian giao hàng, giá cả, khuyến mãi và ưu đãi…
Dưới sự tác động của đại dịch Covid-19, phân khúc hàng tạp hóa, phân khúc không phải hàng tạp hóa cũng như các mô hình bán lẻ khác đã có những thay đổi đáng kể.
Cụ thể, trong phân khúc không phải hàng tạp hóa, nhóm hàng điện và thiết bị điện, gia dụng và làm vườn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số bán hàng. Nhóm hàng liên quan tới sức khỏe và làm đẹp đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong giai đoạn 5 năm gần đây, từ 158,9 tỷ đồng năm 2016 lên 261,94 tỷ đồng năm 2021.
Đáng chú ý, theo quan sát của Deloitte, các cửa hàng bán lẻ ở các vị trí độc lập có xu hướng hoạt động tốt hơn so với những nơi nằm trong trung tâm mua sắm. Một lý do cho điều này là do mức độ tắc nghẽn giao thông cao ở các khu vực thành thị, dẫn đến việc nhiều người tiêu dùng thích đến các cửa hàng bán lẻ có thể dễ dàng tiếp cận.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là giá thuê mặt bằng bán lẻ ở nhiều trung tâm đô thị - bao gồm cả Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh - đã và đang tăng vọt. Điều này đặc biệt đúng đối với các cửa hàng ở các khu vực đắc địa, chẳng hạn như cửa hàng độc lập các cửa hàng nằm trên các đường phố chính. Do đó, một số nhà bán lẻ đã và đang khám phá các cách để tận dụng tốt hơn hoạt động bán lẻ không gian nằm ở những con phố hoặc ngõ ít sầm uất hơn, cũng như mặt tiền cửa hàng thương mại điện tử.
Trong phân khúc bán lẻ tạp hóa, các nhà bán lẻ tạp hóa truyền thống tiếp tục chiếm phần lớn thị phần. Tuy nhiên, sự thống trị này đã xói mòn trong đại dịch do nhiều nhà bán lẻ tạp hóa truyền thống đã tạm ngừng hoạt động trong thời gian xảy ra đại dịch. Do đó, những người tiêu dùng thường mua từ các nhà bán lẻ này đã chuyển tiêu dùng của họ sang các kênh bán lẻ tạp hóa khác, chẳng hạn như cửa hàng tiện lợi, siêu thị và đại siêu thị.
Đặc biệt, trong trong đại dịch, nhiều chuỗi cửa hàng tiện lợi đã nhanh chóng phát triển và xuất hiện trên nhiều kênh trong đó có cả các nền tảng giao đồ ăn. Nhiều thương hiệu đã phát triển và cho ra mắt ứng dụng điện thoại độc quyền để tương tác trực tiếp với khách hàng. Xét về thị phần, các chuỗi cửa hàng nước ngoài “thống trị” phân khúc cửa hàng tiện lợi của Việt Nam, với bốn trong số năm thương hiệu hàng đầu thuộc sở hữu của các công ty đa quốc gia nước ngoài.
Các siêu thị lớn cũng ngày càng trở nên phổ biến khi mua số lượng lớn và nhiều loại hàng hóa. Trong đại dịch, phân khúc siêu thị lớn đã tận dụng xu hướng chuyển dịch sang các kênh kỹ thuật số bằng cách mở rộng sự hiện diện trên các nền tảng thương mại điện tử và thương mại di động. Hiện nay, các công ty đa quốc gia tiếp tục chiếm ưu thế phân khúc siêu thị lớn, một số siêu thị lớn sử dụng các loại sản phẩm độc đáo của riêng họ như một lợi thế cạnh tranh.
Ngoài ra, các siêu thị cũng tận dụng các sản phẩm nhãn hiệu riêng, giá cả ưu đãi để hút một lượng khách hàng từ các cửa hàng truyền thống và và cạnh tranh với các đại siêu thị.
Trước những chuyển đổi này của ngành bán lẻ, ông Vũ Đức Nguyên, Phó Tổng Giám đốc phụ trách ngành hàng tiêu dùng, Deloitte Việt Nam cho biết với dự báo phục hồi nhanh chóng trong thời gian tới của ngành bán lẻ, thói quen tiêu dùng gắn với mô hình đa kênh omnichannel sẽ không chỉ là tạm thời, mà sẽ trở thành thói quen lâu dài khi người tiêu dùng quen với sự tiện lợi mà mô hình này đem lại.
“Theo đó, sẽ có hai xu hướng tiếp tục phát triển trong thời gian tới có ảnh hưởng sâu rộng đến thị trường bán lẻ. Đó là việc sử dụng ví điện tử và thanh toán không tiền mặt tiếp tục được đẩy nhanh, thương mại điện tử trong lĩnh vực bán buôn B2B sẽ có sự tăng trưởng đáng kể”, ông Nguyên nhấn mạnh.




Thanh khoản và tín dụng tăng không đồng nghĩa nền kinh tế đã có đủ vốn cho phát triển. Vấn đề của Việt Nam nằm sâu hơn ở cấu trúc tài chính, khi hệ thống ngân hàng đang phải gánh quá nhiều nhu cầu vốn có thời gian hoàn vốn từ vài năm đến vài chục năm. Muốn chuyển từ tăng trưởng dựa vào tín dụng sang tăng trưởng dựa trên năng lực sản xuất, Việt Nam cần hình thành "vốn kiên nhẫn" và một hệ sinh thái tài chính đa kênh...
Với 474/476 đại biểu tán thành, Luật Đầu tư sửa đổi tiếp tục đẩy mạnh chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời tăng kiểm soát đối với các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe cộng đồng và an ninh quốc gia...
Với lợi thế về địa hình, tài nguyên và không gian phát triển đa dạng, Lâm Đồng đang đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, kết nối hàng không và tăng cường liên kết với các địa phương, doanh nghiệp để mở rộng không gian phát triển, hình thành các chuỗi giá trị và khai mở thêm dư địa tăng trưởng…
Quốc hội thông qua nghị quyết điều chỉnh dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng với tổng mức đầu tư sơ bộ 289.339 tỷ đồng, đồng thời di chuyển 3 di tích trong phạm vi thực hiện 2 dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối Cảng hàng không quốc tế Gia Bình với Thủ đô Hà Nội và dự án xây dựng Doanh trại Trung đoàn không quân Công an nhân dân....
Bầu trời đang trở thành một “mặt trận” tăng trưởng mới của kinh tế toàn cầu. Từ vệ tinh, dữ liệu không gian đến UAV (phương tiện bay không người lái), kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp đang mở ra những thị trường và ngành nghề mới.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Việt Nam đang có tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ. Thậm chí, với những nguồn mỏ dầu khí đang cạn kiệt còn mở ra cơ hội lưu trữ carbon. Tận dụng tốt các nguồn mỏ này sẽ tạo ra CCS, Carbon Capture & Storage – một thị trường mới đầy tiềm năng, quy mô hàng chục tỷ USD.