Theo số liệu báo cáo được Tổng cục Thống kê công bố sáng 29/12, sản xuất công nghiệp quý 4/2023 tăng trưởng tích cực hơn quý 3/2023, tốc độ tăng giá trị tăng thêm ước đạt 6,86% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung cả năm 2023, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 3,02% so với năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,62%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,79%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,18%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3,17%, làm giảm 0,10 điểm phần trăm.
Báo cáo của Tổng cục thống kê cũng cho thấy, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2023 so với năm 2022 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao, gồm: sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,2%; hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 9,5%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,3%; kim loại tăng 7,6%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 7,2%; dệt tăng 7%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,1%.
Ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm là phương tiện vận tải khác giảm 10,7%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,7%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 4,2%; xe có động cơ giảm 2,4%; khai thác than cứng và than non giảm 1,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 1,5%; trang phục giảm 0,9%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 0,6%.
Về tình hình sản xuất công nghiệp của các địa phương, báo cáo nêu rõ, chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2023 so với năm trước tăng ở 50 địa phương và giảm ở 13 địa phương trên cả nước.
Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là Quảng Ninh tăng 30,3%; Bắc Giang tăng 20,8%; Phú Thọ tăng 18,5%; Nam Định tăng 14,8%; Kiên Giang tăng 14,2%; Hà Nam tăng 13,9%; Hải Phòng tăng 13,4%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao là Khánh Hòa tăng 138,5%; Trà Vinh tăng 40,8%; Ninh Thuận tăng 15,1%; Quảng Ninh tăng 12,9%; Phú Thọ tăng 9,3%.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp hoặc giảm, gồm: Hòa Bình tăng 0,3%; Quảng Nam giảm 26,8%; Bắc Ninh giảm 11,3%; Vĩnh Long giảm 9,4%; Sóc Trăng giảm 6,1%; Lào Cai giảm 4%; Đà Nẵng giảm 3,7%.
Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện năm 2023 so với năm trước giảm là Sơn La giảm 26,1%; Hà Giang giảm 21,6%; Lai Châu giảm 20,8%; Quảng Nam giảm 18,7%; Hòa Bình giảm 14,7%; Lào Cai giảm 11,1%. Địa phương có ngành khai khoáng năm 2023 so với năm trước giảm: Vĩnh Long giảm 85,8%; Hà Giang giảm 52,8%; Quảng Nam giảm 7,6%.
Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2023 tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2023, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,8% so với năm 2022 (năm trước tăng 7,1%).
Về chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2023 giảm 1,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 19,8% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 13,9%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2023 là 87,5% (năm 2022 là 78,1%).
Đối với tình hình lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2023 tăng 0,9% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 3,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và giảm 2,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,2% và giảm 2%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1% và giảm 2,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,2% và giảm 1,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,3% và tăng 1,3%.
Sau thời gian triển khai liên tục trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, chiến dịch bảo dưỡng tổng thể (BDTT) Nhà máy Đạm Cà Mau năm 2026 đã hoàn thành an toàn, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Nhà máy chính thức trở lại vận hành và bắt đầu có sản phẩm trở lại từ 2:00 ngày 7/10/2026.
Theo tính toán của SNMO, sản lượng điện toàn quốc quý 4/2026 dự kiến đạt 88,97 tỷ kWh, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Để bảo đảm nguồn cung, EVN tập trung đưa hai tổ máy Nhiệt điện Quảng Trạch I vào vận hành thương mại, đồng thời đẩy nhanh tiến độ các công trình nguồn và lưới điện trọng điểm…
Trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, cà phê Tây Bắc không chỉ cần chứng minh sản phẩm được trồng ở đâu mà còn phải trả lời được câu hỏi sản xuất như thế nào, có phù hợp với điều kiện tự nhiên hay không và tạo ra giá trị gì...
Dù vào mùa nước đổ hay mùa lúa chín, cảnh quan ruộng bậc thang đều có những sắc thái riêng, gắn với nghề truyền thống, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các sản phẩm theo mùa thay vì chỉ khai thác một thời điểm cố định trong năm...
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.