
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Tư, 14/01/2026
Huyền Vy
29/12/2023, 12:23
Nhờ xu hướng tích cực từ quý 2 nên kết thúc năm 2023, chỉ số sản xuất công nghiệp vẫn giữ được đà tăng trưởng dương. Đáng chú ý, trong số 33 ngành công nghiệp trọng điểm cấp 2 thì có tới 21 ngành tăng trưởng so với cùng kỳ…
Theo số liệu báo cáo được Tổng cục Thống kê công bố sáng 29/12, sản xuất công nghiệp quý 4/2023 tăng trưởng tích cực hơn quý 3/2023, tốc độ tăng giá trị tăng thêm ước đạt 6,86% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung cả năm 2023, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 3,02% so với năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,62%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,79%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,18%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 3,17%, làm giảm 0,10 điểm phần trăm.
Báo cáo của Tổng cục thống kê cũng cho thấy, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2023 so với năm 2022 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao, gồm: sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,2%; hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 9,5%; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,3%; kim loại tăng 7,6%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 7,2%; dệt tăng 7%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,1%.
Ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm là phương tiện vận tải khác giảm 10,7%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,7%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 4,2%; xe có động cơ giảm 2,4%; khai thác than cứng và than non giảm 1,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 1,5%; trang phục giảm 0,9%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 0,6%.
Về tình hình sản xuất công nghiệp của các địa phương, báo cáo nêu rõ, chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2023 so với năm trước tăng ở 50 địa phương và giảm ở 13 địa phương trên cả nước.
Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là Quảng Ninh tăng 30,3%; Bắc Giang tăng 20,8%; Phú Thọ tăng 18,5%; Nam Định tăng 14,8%; Kiên Giang tăng 14,2%; Hà Nam tăng 13,9%; Hải Phòng tăng 13,4%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao là Khánh Hòa tăng 138,5%; Trà Vinh tăng 40,8%; Ninh Thuận tăng 15,1%; Quảng Ninh tăng 12,9%; Phú Thọ tăng 9,3%.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp hoặc giảm, gồm: Hòa Bình tăng 0,3%; Quảng Nam giảm 26,8%; Bắc Ninh giảm 11,3%; Vĩnh Long giảm 9,4%; Sóc Trăng giảm 6,1%; Lào Cai giảm 4%; Đà Nẵng giảm 3,7%.
Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện năm 2023 so với năm trước giảm là Sơn La giảm 26,1%; Hà Giang giảm 21,6%; Lai Châu giảm 20,8%; Quảng Nam giảm 18,7%; Hòa Bình giảm 14,7%; Lào Cai giảm 11,1%. Địa phương có ngành khai khoáng năm 2023 so với năm trước giảm: Vĩnh Long giảm 85,8%; Hà Giang giảm 52,8%; Quảng Nam giảm 7,6%.
Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2023 tăng 3,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2023, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,8% so với năm 2022 (năm trước tăng 7,1%).
Về chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2023 giảm 1,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 19,8% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 13,9%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân năm 2023 là 87,5% (năm 2022 là 78,1%).
Đối với tình hình lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2023 tăng 0,9% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 3,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và giảm 2,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,2% và giảm 2%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,3% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1% và giảm 2,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,2% và giảm 1,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,3% và tăng 1,3%.
Thực hiện các chủ trương của Trung ương về hợp tác quốc tế, những năm gần đây Thanh Hóa chủ động đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, mở rộng quan hệ đối ngoại với các đối tác châu Âu, từng bước hình thành mạng lưới hợp tác kinh tế, thương mại và đào tạo nguồn nhân lực ngày càng thực chất...
Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp của thành phố Huế tăng gần 13%, vượt kế hoạch đề ra. Trên nền kết quả này, ngành Công thương thành phố phấn đấu đưa chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2026 tăng 16–17%, gắn với định hướng phát triển công nghiệp hiện đại, bền vững...
Theo HSBC, bất chấp “sóng gió” thuế quan, tăng trưởng GDP Việt Nam đạt 8% năm 2025, trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Sang năm 2026, HSBC dự báo tăng trưởng sẽ đạt khoảng 6,7%…
Hoa Kỳ dự kiến đầu tư hơn 15,2 triệu USD cho dự án cải thiện chuỗi giá trị cá rô phi Việt Nam và thúc đẩy thương mại các sản phẩm đậu nành chất lượng cao phục vụ nuôi trồng thủy sản. Dự án kéo dài 5 năm, hướng tới nâng tổng sản lượng cá rô phi đạt 1,21 triệu tấn, với giá trị ước khoảng 1,25 tỷ USD...
Dù Việt Nam đã chi gần 2 tỷ USD để nhập khẩu thịt và các phụ phẩm động vật trong năm 2025 nhằm bổ sung nguồn cung, song thị trường thịt lợn trong nước vẫn ghi nhận giá lợn hơi tăng nhanh và duy trì ở mức cao khi nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán đến gần...
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: