
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Bảy, 07/02/2026
07/02/2026, 17:14
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương báo cáo những nội dung chủ yếu về “Đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026 - 2030”. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy xin trân trọng giới thiệu toàn văn báo cáo này.
Trong giai đoạn 2021-2025, bối cảnh đất nước ta có nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn thách thức nhiều hơn. Trong đó có tác động của 4 vấn đề lớn: 1- Đại dịch Covid-19; 2- Xung đột vũ trang ở Ucraina và khu vực Trung Đông; sự điều chỉnh chính sách thuế của các nước lớn, chiến tranh thương mại làm suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu; 3- Thiên tai, bão lũ, sạt lở diễn ra với tần suất cao, cường độ mạnh; 4- Sự cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã vững vàng, lãnh đạo đất nước tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện với nhiều điểm sáng nổi bật: 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của nhiệm kỳ đạt và vượt, trong đó toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội đều vượt kế hoạch; riêng năm 2024 và 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu đề ra.
Văn kiện Đại hội đã đánh giá toàn diện các kết quả đạt được theo 10 nhóm nội dung, tôi xin khái quát, làm rõ một số kết quả nổi bật như sau:
Một là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, nền kinh tế tăng trưởng ở mức khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới; chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực. Theo đó,
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 6,2%/năm trong đó, năm 2025 tăng 8,02% - thuộc nhóm các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới.
Kinh tế tăng trưởng cao và liên tục đã giúp cho quy mô GDP và GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng nhanh: quy mô GDP tăng từ hơn 346 tỷ USD (2020) lên trên 514 tỷ USD (2025), xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD đưa Việt Nam vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao.
Lạm phát được kiểm soát thành công, tỷ trọng nợ công/GDP giảm và thấp hơn nhiều giới hạn cho phép, bội chi ngân sách giảm dưới mục tiêu của Quốc hội. Quy mô thương mại tăng mạnh xếp thứ 20 thế giới; xuất siêu thương mại lớn. Niềm tin môi trường kinh doanh được cải thiện, nhất là sau khi Bộ Chính trị ban hành các Nghị quyết chiến lược, đặc biệt Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Kinh tế không chỉ tăng trưởng ở mức cao, chất lượng tăng trưởng đã có sự cải thiện tích cực thông qua các chỉ số như tăng năng suất lao động, tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), nâng hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia, tăng tỷ trọng kinh tế số.
Các tổ chức quốc tế đánh giá cao kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng hạng tín nhiệm và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam.
Hai là, công tác phòng, chống dịch Covid-19 được thực hiện quyết liệt, hiệu quả gắn với thực hiện các biện pháp phục hồi và phát triển kinh tế. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt với nhiều giải pháp khống chế, đẩy lùi dịch bệnh; thực hiện "mục tiêu kép", vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa duy trì sản xuất, chống đứt gãy chuỗi cung ứng; và dần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực; nền kinh tế bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hoá, xanh hoá, đa dạng hoá, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Theo đó, cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ từ 78,6% (2020) lên 80,4% (2025), trong khi khu vực nông nghiệp giảm từ 12,7% xuống 11,6%. Kinh tế số duy trì tốc độ tăng trưởng 9-10%/năm, chiếm khoảng trên 14% GDP. Bên cạnh đó, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế như: đầu tư công; doanh nghiệp nhà nước; phát triển năng động khu vực kinh tế tư nhân theo hướng là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng bảo đảm hoạt động an toàn từng bước áp dụng chuẩn mực quốc tế; đã hình thành một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, cạnh tranh, từng bước hình thành năng lực tự chủ của nền kinh tế; nhiều ngành dịch vụ được tập trung phát triển, phát triển mạnh thương mại điện tử, du lịch phục hồi mạnh, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, tập trung cùng với các mô hình nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn
Bốn là, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả tích cực, toàn diện và thực chất hơn. Theo đó, hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật được đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị. Hoàn thiện khung pháp lý của nền kinh tế thị trường, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, kiến tạo sự phát triển; tháo gỡ các điểm nghẽn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với các lĩnh vực trọng yếu, dễ phát sinh tiêu cực.
Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh với nhiều cơ chế, chính sách đột phá. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo đạt kết quả tích cực, cơ chế, chính sách đột phá về phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành theo Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Phát triển nhân lực chất lượng cao được chú trọng. Cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đổi mới căn bản, đột phá theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của giá trị văn hóa, con người Việt Nam đối với phát triển bền vững đất nước được nâng lên.
Về phát triển kết cấu hạ tầng: đây là giai đoạn bứt phá làm thay đổi diện mạo đất nước và mở ra không gian phát triển mới, trong đó hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, hạ tầng đô thị, nông thôn được chú trọng đầu tư.
Năm là, phát triển kinh tế - xã hội các vùng và liên vùng được chú trọng; Kinh tế biển được thúc đẩy, đạt nhiều kết quả tích cực; đô thị hóa, phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật.
Thúc đẩy hình thành các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng; nhiều dự án vùng được thực hiện. Hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển được quan tâm đầu tư. Đô thị hóa trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội; đến năm 2025, chất lượng đô thị được nâng cao, hình thành các cực tăng trưởng và trung tâm đổi mới sáng tạo tại các đô thị lớn.
Sáu là, phát triển văn hoá, xã hội và con người đạt nhiều kết quả tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng cao.
Theo đó, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam được tập trung xây dựng. Chỉ số phát triển con người tiếp tục được cải thiện, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập; thứ hạng về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững SDGs tăng lên; Xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng từ thứ 83 năm 2020 lên thứ 46 năm 2025.
(Tuổi thọ trung bình năm 2025 đạt 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống khoảng 1,3% năm 2025, đời sống nhân dân, nhất là ở vùng khó khăn, được cải thiện rõ rệt. Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh triển khai; đến năm 2025 cơ bản xoá nhà tạm, nhà dột nát).
Bảy là, công tác quản lý và sử dụng tài nguyên; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được quan tâm chỉ đạo và có chuyển biến tích cực. Công tác điều tra, quy hoạch, quản lý và khai thác tài nguyên, quan trắc, đánh giá, giám sát, kiểm soát chất lượng môi trường tiếp tục được tăng cường; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh được chú trọng.
Tám là, quốc phòng, an ninh Quốc gia không ngừng được củng cố, tăng cường; giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường toàn diện; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đạt nhiều kết quả quan trọng. Xây dựng “Thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
Chín là, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, hiệu quả, đạt nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật có ý nghĩa chiến lược, lâu dài.
Mười là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, đạt nhiều kết quả đột phá.
Theo đó, hệ thống pháp luật được tập trung rà soát, hoàn thiện theo hướng toàn diện, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận, phù hợp và khả thi. Cải cách thủ tục hành chính được thực hiện quyết liệt. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và thực hành tiết kiệm được đẩy mạnh; nhiều vụ việc được xử lý nghiêm được nhân dân đồng tình, đánh giá cao.
Bên cạnh đánh giá các kết quả đạt được, Đại hội XIV cũng đã làm rõ 7 nhóm hạn chế, yếu kém, tôi xin khái quát các điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế chưa đạt mục tiêu đề ra (6,2% so với 6,5-7%), ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện, cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng chưa có nhiều thay đổi đáng kể; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế chưa cao.
(Năng suất lao động còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực (chỉ bằng 11,6 Singapore, 27% Hàn Quốc, 30,6% Nhật Bản, 66,9% Thái Lan, 56,8% Trung Quốc,…) và cải thiện chậm. Thị trường tài chính - tiền tệ tiềm ẩn rủi ro; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát huy vai trò kênh huy động vốn trung, dài hạn cho doanh nghiệp, thị trường bất động sản còn khó khăn. Công nghiệp chủ yếu theo chiều rộng, gia công - lắp ráp chiếm tỷ trọng lớn; công nghiệp nền tảng, mũi nhọn và hỗ trợ phát triển chậm, liên kết FDI - nội địa yếu. Chất lượng dịch vụ chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế còn thấp. Nông nghiệp thiếu bền vững, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản chưa phát triển mạnh, nhất là ở khâu bảo quản và chế biến sâu. Đầu tư công chưa phát huy vai trò dẫn dắt; xử lý tổ chức tín dụng yếu kém còn khó khăn; cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chậm; doanh nghiệp tư nhân trong nước quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu tập đoàn dẫn dắt").
Thứ hai, kết quả thực hiện 3 đột phá chiến lược vẫn còn chưa như mong muốn. Thể chế phát triển vẫn là điểm nghẽn, chậm được hoàn thiện, còn bất cập, chưa thuận lợi để huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển; Chất lượng nguồn nhân lực cải thiện chậm, thiếu nhân lực đáp ứng yêu cầu các ngành mũi nhọn, công nghệ cao và kinh tế số; đào tạo chưa gắn với nhu cầu thị trường và xã hội; Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực quan trọng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ, hiện đại, chưa theo kịp yêu cầu phát triển
Thứ ba, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế của các vùng còn thấp so với mục tiêu đề ra; chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng và từng địa phương. Phát triển các ngành kinh tế biển và sử dụng không gian biển chưa hiệu quả. Tỉ lệ đô thị hoá còn thấp, tốc độ đô thị hoá chậm, chất lượng chưa cao, tác động lan tỏa của đô thị còn hạn chế.
Thứ tư, Đổi mới căn bản GD-ĐT chưa đồng bộ; văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh, động lực cho phát triển; cơ chế, chính sách phát triển văn hoá, thể thao còn có điểm bất cập, thiếu đồng bộ; đầu tư cho văn hoá hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng yêu cầu nhiệm vụ. Dân số đối mặt mức sinh giảm, mất cân bằng giới tính khi sinh. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm còn bất cập.
Thứ năm, cơ chế, chính sách quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên chưa theo kịp yêu cầu phát triển KT-XH; tình trạng ngập lụt, ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn, các khu-cụm công nghiệp, lưu vực sông, làng nghề và môi trường biển chưa được kiểm soát hiệu quả. Chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai còn có mặt hạn chế; năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu chưa có bước cải thiện rõ rệt.
Thứ sáu, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực còn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, lãng phí còn khá phổ biến. Cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số còn chậm.
Thứ bảy, kết hợp giữa phát triển KT-XH với đảm bảo QP-AN trên một số lĩnh vực, địa bàn còn chưa dược chú trọng đúng mức; công tác xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn có mặt còn hạn chế; việc triển khai các thoả thuận, cam kết quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, bất cập.
Sau 5 năm thực hiện Chiến lược 2021 - 2030, Đại hội XIV đã nhìn nhận, đánh giá các nguyên nhân khách quan, chủ quan đối với cả thành tựu và hạn chế, yếu kém, trong đó xác định nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; đồng thời rút ra 5 bài học kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn trong giai đoạn tới (chi tiết trong văn kiện Đại hội), gồm:
Thứ nhất: Tiếp tục đường lối đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, tư duy đột phá, tạo ra nguồn lực và động lực cho phát triển. Nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị; phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại.
Thứ hai: Nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; giữ bản lĩnh vững vàng; phân công, phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; nắm chắc tình hình, đề ra quyết sách linh hoạt, phù hợp, hiệu quả để lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả; tổ chức thực hiện bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền.
Thứ ba: Tập trung nâng cao chất lượng thể chế phát triển, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tháo gỡ các điểm nghẽn cản trở phát triển. Bảo đảm tính nhất quán trong việc hiểu, áp dụng các quy định pháp luật. Tổ chức thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm thượng tôn hiến pháp và pháp luật. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Thứ tư: Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hạnh phúc của Nhân dân, bảo đảm công khai, minh bạch. Khơi dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, phát huy ý chí tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động và chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ năm: Làm tốt công tác đối ngoại, hội nhập, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, kịp thời tổng kết thực tiễn, đưa ra các cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp, hiệu quả.
Về bối cảnh, thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại; tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức lớn đan xen. Trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính đột phá, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới cao hơn; đồng thời cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Về quan điểm, Nghị quyết Đại hội XIV đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo trong xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó có nhiều nội dung mới (đề nghị các đồng chí nghiên cứu trong Nghị quyết).
Nhóm quan điểm thứ nhất, Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh 4 kiên định (Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định, kiên trì, kiên quyết các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng); đồng thời, lần đầu tiên có quan điểm mới “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước” và nêu yêu cầu về tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển.
Nhóm quan điểm thứ hai, Nghị quyết xác định: đẩy mạnh đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế...; coi “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Như vậy, lần đầu tiên, bảo vệ môi trường được coi là nhiệm vụ trung tâm cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời, công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được nâng tầm trở thành trọng yếu, thường xuyên.
Nhóm quan điểm thứ ba xác định nhiều quan điểm mới, coi “phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển”; xác định yêu cầu “xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính và phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất”; phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ 4 chuyển đổi (đó là: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực) và đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới.
Nhóm quan điểm thứ tư xác định: Phát huy sức mạnh, trí tuệ, bản lĩnh của con người Việt Nam và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại; chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. "... gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế...". Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.
Nhóm quan điểm thứ năm xác định các quan điểm về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.
Về mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển, mục tiêu chung được Nghị quyết Đại hội đề ra rất toàn diện, hướng đến thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó có các thành tố trọng tâm, đó là: (1) Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; (2) Phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; (3) Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; (4) Tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể được cấu trúc thành 3 nhóm. Về kinh tế có 14 mục tiêu, chỉ tiêu. Về xã hội có 6 mục tiêu, chỉ tiêu. Về môi trường có 5 mục tiêu, chỉ tiêu (cụ thể trong Nghị quyết).
Từ các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được Đại hội XIV xác định như trong Nghị quyết cho thấy đây đều là những mục tiêu, chỉ tiêu thể hiện khát vọng phát triển rất lớn, đặt ra ở mức rất cao, khó khăn, thách thức, là yêu cầu khách quan, là thước đo bản lĩnh, ý chí và khát vọng của dân tộc; phải có quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, bước đi vững chắc, biến khát vọng thành hành động, biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể như Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh. Ví dụ như về chỉ tiêu tăng trưởng GDP: Trong 40 năm đổi mới, Việt Nam chưa có giai đoạn nào đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức từ 10% trở lên. Nhưng tại Đại hội lần này, Đảng ta đã xác định mục tiêu, yêu cầu phải đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên. Điều này thể hiện yêu cầu rất cao để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu, tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình để cất cánh, phát triển.
Để thực hiện thành công các mục tiêu nêu trên, bám sát các quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết Đại hội đã đề ra các 12 định hướng; 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, đồng thời có Chương trình hành động cụ thể hóa các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay. Sau đây là khái quát theo một số nhóm vấn đề lớn sau đây, trọng tâm về phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững.
Nghị quyết Đại hội xác định tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng, theo đó tập trung vào các nội dung:
- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, tạo đột phá để sớm hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước. Xây dựng và hoàn thiện thể chế phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
(Xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Có cơ chế, chính sách đột phá, vượt trội để phát triển các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm, quy mô lớn). Chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn để quản lý và tăng cường kiểm tra, giám sát.. Hoàn thiện thể chế để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo đảm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị mới ban hành về phát triển văn hóa.
- Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị); thể chế phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, nguồn nhân lực chất lượng cao (theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị).
- Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững, tăng cường sự tham gia của các chủ thể, sự giám sát của Nhân dân; gắn kết chặt chẽ chính sách kinh tế với chính sách xã hội; cùng với đó là hoàn thiện đồng bộ thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu.
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Thứ hai, về xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, theo đó:
- Nghị quyết Đại hội đề ra nhiệm vụ xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tiếp tục phát huy các động lực tăng trưởng truyền thống (về huy động, triển khai hiệu quả các nguồn lực đầu tư; nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng từ xuất khẩu; khai thác hiệu quả động lực tăng trưởng từ tiêu dùng trong nước), lấy khoa học, công nghệ là trọng tâm để đổi mới các động lực tăng trưởng truyền thống; xác định các động lực tăng trưởng mới từ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, từ phát triển các mô hình kinh tế mới, mô hình khu kinh tế chuyên biệt mới và không gian kinh tế, các ngành kinh tế mới; hình thành các cực tăng trưởng, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, đặc khu kinh tế thế hệ mới phát triển ngang tầm khu vực, toàn cầu.
- Thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế theo các ngành và các lĩnh vực trọng tâm (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư công, tài chính-ngân hàng, đầu tư công, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, thu hút FDI,...). Theo đó,
Nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng; từng bước làm chủ công nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi;
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn và theo chuỗi giá trị; Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong nông nghiệp;
Nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng cao;
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa. Lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực, lấy hội nhập quốc tế làm phương thức để huy động nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nâng cao chất lượng đô thị hóa đảm bảo đồng bộ hài hòa giữa cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị với phát triển đô thị mới; mở rộng các loại hình nhà ở, ưu tiên phát triển nhà ở xã hội.
- Phát triển kinh tế biển toàn diện, gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển.
- Phát huy đầy đủ vai trò của các khu vực kinh tế, trong đó phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng.
- Đẩy mạnh liên kết vùng và tổ chức lại không gian phát triển, phát huy vai trò các vùng động lực quốc gia, cực tăng trưởng và các đô thị lớn.
Thứ ba, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
- Trong nhóm nhiệm vụ và giải pháp này, Văn kiện tiếp tục khẳng định, bổ sung, nhấn mạnh, làm rõ hơn những chủ trương, định hướng đã nêu tại Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
Theo đó, yêu cầu phải “khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường, chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hoàn thiện cơ chế, chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo; tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trọng tâm là cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư, cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ chiến lược”.
- Cùng với đó là nâng cao tiềm lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
- Phát triển các thiết chế và hạ tầng đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong toàn xã hội.
- Ưu tiên phát triển, làm chủ một số ngành công nghệ, các công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số; chú trọng nghiên cứu cơ bản, gắn với định hướng ứng dụng.
- Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, gắn với bảo đảm an ninh, an toàn.
- Xây dựng khung khổ pháp lý và chính sách thử nghiệm vượt trội trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, về quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo đó, tập trung vào các giải pháp:
- Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách và quy hoạch về quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển và vận hành hiệu quả các thị trường liên quan đến tài nguyên và môi trường. Thực hiện đồng bộ các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, chống lãng phí.
- Chủ động phòng, chống và ứng phó thiên tai, đầu tư công trình bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; khắc phục ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các đô thị lớn; thực hiện quy hoạch không gian biển quốc gia.
Thứ năm, nhóm các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng và phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa, con người Việt Nam; xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại; quản lý, phát triển xã hội bền vừng gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân. Theo đó, tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển; đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đẩy mạnh phát triển đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa trong gia đình và xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, có năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ năng số.
- Về xây dựng nền giáo dục quốc dân và phát triển nguồn nhân lực: Nhất quán xác định giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược.
Đổi mới phương thức đào tạo, chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất; đào tạo nghề chất lượng cao và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số trong giáo dục.
- Về quản lý, phát triển xã hội bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội: Hoàn thiện mô hình, cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững. Xây dựng xã hội lành mạnh, kỷ cương, văn minh, an toàn, phát triển. Phát triển kinh tế gắn với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người. Xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý dựa trên hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, bao phủ toàn dân, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”; xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả, tiến tới miễn viện phí cho người dân. Đến năm 2030 cơ bản không còn hộ nghèo.
Thứ sáu, tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại
Quốc phòng, an ninh và đối ngoại được tăng cường, triển khai đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, bảo vệ nền văn hóa; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh trên các lĩnh vực truyền thống, phi truyền thống; giữ vững, củng cố môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, tranh thủ nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, qua đó tạo thế và lực mới cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong tình hình mới.
Nghị quyết Đại hội đã xác định cụ thể 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược.
6 nhiệm vụ trong tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV bao gồm: (1) Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước; (2) Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, nhất là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (3) Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế; phát triển các thành phần, khu vực kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; (4) Tập trung triển khai đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; (5) Phát triển con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững; (6) Xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, tinh nhuệ, chính quy, hiện đại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; triển khai đồng bộ, hiệu quả, sáng tạo công tác đối ngoại. (chi tiết trong Nghị quyết).
Ba đột phá chiến lược xác định trong trong Nghị quyết Đại hội XIV tập trung vào những nội dung then chốt sau đây:
(1) Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển; kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo; thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.
(2) Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.
(3) Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chiều 7/2, Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức đã bế mạc sau một ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao, hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra và thành công tốt đẹp.
Ngày 7/2, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Nền kinh tế của Việt Nam đã khởi sắc ngay từ tháng đầu năm 2026, tạo nền tảng vững chắc cho một năm được kỳ vọng sẽ chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam. Đáng chú ý, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa tháng 1/2026 88,16 tỷ USD, tăng 39% so với cùng kỳ năm trước; ngành sản xuất trong tháng 1 khởi đầu khả quan khi chỉ số PMI đạt 52,2 điểm...
Nhân dịp tham dự các cuộc gặp cấp cao giữa lãnh đạo ba Đảng Việt Nam – Campuchia – Lào, ngày 6/2, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã hội kiến Thủ tướng Campuchia Hun Manet, đánh giá kết quả hợp tác thời gian qua và trao đổi các định hướng lớn nhằm thúc đẩy quan hệ song phương phát triển hiệu quả, thực chất hơn trong thời gian tới.
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Campuchia, ngày 6/2 tại Phnom Penh, Tổng Bí thư Tô Lâm đã hội kiến Chủ tịch danh dự Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) Heng Samrin và gặp gỡ cán bộ Đại sứ quán cùng cộng đồng người Việt Nam tại Campuchia.
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: