Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 9 và 9 tháng đầu năm cho thấy, GDP quý 3/2023 tăng 5,33% so với cùng kỳ năm trước, chỉ cao hơn so với tốc độ tăng của cùng kỳ các năm 2020 và 2021 trong giai đoạn 2011-2023.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với kỳ vọng cũng như kịch bản tăng trưởng quý 3/2023 để hướng tới mục tiêu tăng trưởng 6-6,5% cả năm 2023 nhưng theo Tổng cục Thống kê, xu hướng tăng trưởng đã tích cực hơn (quý 1/2023 tăng 3,28%, quý 2/2023 tăng 4,05%, quý 3/2023 tăng 5,33%). Điều này cho thấy áp lực tăng trưởng quý 4/2023 sẽ rất áp lực.
Lý giải về lý do khiến tăng trưởng GDP quý 3/2023 chậm hơn dự kiến, bà Nguyễn Thị Hương cho biết kinh tế 9 tháng năm 2023 đối mặt với với nhiều khó khăn, thách thức khi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đều có mức tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng do tổng cầu suy giảm; lạm phát đã hạ nhiệt nhưng vẫn ở mức cao; chính sách tiền tệ thắt chặt, nợ công thế giới đã tăng lên mức kỷ lục, xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine phức tạp hơn, bất ổn địa chính trị, an ninh lương thực, thiên tai, biến đổi khí hậu… ngày càng gia tăng.
“Các tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023 tăng nhẹ so với dự báo đưa ra tại thời điểm trước đó do tăng trưởng 6 tháng cuối năm được dự báo sẽ khởi sắc nhưng vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng năm 2022 từ 0,1 đến 1,0 điểm phần trăm”, bà Hương nói.
Với mức tăng GDP quý 3/2023 này, GDP 9 tháng năm 2023 tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, chỉ cao hơn tốc độ tăng 2,19% và 1,57% của 9 tháng các năm 2020 và 2021 trong giai đoạn 2011-2023 .
Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,43%, đóng góp 9,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,41%, đóng góp 22,27%; khu vực dịch vụ tăng 6,32%, đóng góp 68,57%.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 9 tháng năm 2023 tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,29 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,13% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 3,56%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh tổng cầu thế giới suy giảm. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2023 chỉ tăng 1,65% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011-2023 , đóng góp 0,56 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,98%, là mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011-2023 , đóng góp 0,51 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 6,17%, đóng góp 0,42 điểm phần trăm.
Các ngành thương mại, du lịch duy trì đà tăng trưởng cao, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2023 tăng 6,32% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 1,87% và mức giảm 0,05% của cùng kỳ các năm 2020 và năm 2021.
Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,04% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 8,66%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,91%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,17%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm.
Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2023, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,51%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,16%; khu vực dịch vụ chiếm 42,72%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,61% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2022 là 11,47%; 38,49%; 41,29%; 8,75%).
Về sử dụng GDP 9 tháng năm 2023, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,03% so với cùng kỳ năm 2022, đóng góp 34,30% vào tốc độ tăng chung của nền kinh tế; tích lũy tài sản tăng 3,22%, đóng góp 19,35%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 5,79%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giảm 8,19%; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 46,35%.
Dự án thành phần 2 cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột vẫn còn hơn 20% khối lượng hợp đồng trong khi thời tiết chuẩn bị bước vào mùa mưa, tiềm ẩn nguy cơ không kịp tiến độ trong năm 2026...
Với kế hoạch ưu tiên đầu tư 8 dự án, hoàn thành 255 km đường sắt trong giai đoạn 2026 - 2030, TP.Hồ Chí Minh yêu cầu công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng cần được chuẩn bị từ rất sớm, thay vì chờ đến khi dự án bước vào giai đoạn triển khai đầu tư.
Vietnam Airlines và Airbus trao biên bản ghi nhớ về việc chào bán 5 máy bay A350-900, dự kiến giao trong giai đoạn 2033-2034, trong kế hoạch đầu tư 30 máy bay thân rộng sau năm 2030 của hãng.
Nghị định 349/2026/NĐ-CP nâng hạn mức chỉ định thầu đối với một số gói thầu, tăng giá trị mua sắm nhỏ được tự quyết định từ 50 triệu lên 100 triệu đồng và bổ sung cơ chế xử lý một số tình huống trong đấu thầu...
Bộ Xây dựng đề xuất 6 nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược cho đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị, tập trung vào ray, nền đường, 5G, tín hiệu và các cấu phần cốt lõi của phương tiện...
Rạng sáng 10.9 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân Ngô Phương Ly và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thủ đô Paris, bắt đầu thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị thượng đỉnh Không gian vũ trụ tại Paris, theo lời mời của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Chuyến thăm chính thức Cộng hòa Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục khẳng định sự coi trọng đặc biệt của Việt Nam đối với quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp, cũng là cơ hội để kết nối những lĩnh vực thế mạnh của Pháp về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và các ngành công nghệ chiến lược với nhu cầu phát triển mới của Việt Nam.