Các ngân hàng thương mại khó đảm bảo hiệu quả kinh doanh và giảm lãi suất cho vay khi yêu cầu tỷ lệ trích lập dự phòng hiện nay quá cao.
Đây là nhận định của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) trong văn bản gửi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mới đây, bên cạnh
những phản hồi và đề xuất về những nội dung của Thông tư số 13
.
Cụ thể, VNBA cho rằng Ngân hàng Nhà nước cần xem xét lại và điều chỉnh một số quy định đặt ra trong Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, ban hành đã cách đây 5 năm.
Điều 9 của Quyết định 493 (về tỷ lệ dự phòng chung) có quy định:
“1. Tổ chức tín dụng thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 Quy định này.
2. Trong thời hạn tối đa năm (05) năm kể từ ngày Quy định này có hiệu lực thi hành, tổ chức tín dụng phải thực hiện trích lập đầy đủ số tiền dự phòng chung theo quy định tại Khoản 1, Điều này”.
Với những quy định trên, Hiệp hội Ngân hàng cho rằng, trong điều kiện hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện nay, tỷ lệ trích lập dự phòng chung 0,75% trên là quá cao. Vì hiện nay, chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại rất thấp, khoảng 2%, thậm chí có ngân hàng thương mại mức chênh lệch này còn 1,5% - 1,8%.
“Việc các ngân hàng thương mại còn phải trích lập dự phòng chung theo quy định là 0,75% trên dư nợ cho vay từ nhóm 1 đến nhóm 4 sẽ rất khó cho các ngân hàng đảm bảo hiệu quả kinh doanh và thực hiện chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc giảm lãi suất cho vay”, VNBA lập luận.
Và kiến nghị mà đầu mối này đưa ra trong văn bản gửi Thống đốc là “đề nghị Ngân hàng Nhà nước cho giảm tỷ lệ dự phòng chung từ 0,75% quy định tại Quyết định 493 xuống còn 0,5%, đồng thời cho phép kéo dài thời gian các tổ chức tín dụng phải thực hiện trích lập dự phòng chung đến thời gian phù hợp hơn để các ngân hàng có điều kiện giảm lãi suất cho vay”.
Cũng trong Quyết định 493, Điều 19, Khoản 2 quy định: “Các ngân hàng thương mại nhà nước đánh giá tình hình trích lập dự phòng cụ thể và khả năng trích lập dự phòng chung báo cáo Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính xem xét quyết định trên cơ sở từng trường hợp cụ thể nhưng tối đa không quá năm (05) năm, các ngân hàng thương mại nhà nước phải trích lập đầy đủ dự phòng theo Quy định này”.
VNBA cho biết, căn cứ theo quy định trên, đến hết năm nay (năm 2010), các ngân hàng thương mại nhà nước phải thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ theo Điều 6 và Điều 7 của Quyết định 493.
“Theo một số ngân hàng thương mại, nếu áp dụng phân loại nợ mới theo Điều 7 của Quyết định 493 thì tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng sẽ tăng lên rất lớn, do đó số tiền phải trích lập dự phòng rủi ro cao hơn.
Trong điều kiện kinh tế bình thường, việc phân loại nợ theo Điều 7 là cần thiết để quản trị tín dụng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, trong điều kiện các ngân hàng thương mại hiện nay đang phải cùng một lúc chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, thực hiện các tiêu chí an toàn vốn theo Thông tư 13 mà phải thực hiện phân loại nợ theo Điều 7 sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng”, văn bản của VNBA viết.
Với những lập luận trên, đầu mối đại diện cho các ngân hàng thương mại đưa ra đề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét cho kéo dài thời gian thực hiện cách phân loại nợ mới theo Điều 7 Quyết định 493 thêm một thời gian nữa.
* Theo “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” (ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN), việc phân loại nợ của các tổ chức tín dụng thực hiện theo các nhóm từ 1 đến 5, theo các mức độ từ “Nợ đủ tiêu chuẩn”, “Nợ cần chú ý”, “Nợ dưới tiêu chuẩn”, “Nợ nghi ngờ” và “Nợ có khả năng mất vốn”; các nhóm này ứng với các tiêu chí về thời gian quá hạn của khoản nợ và mức độ yêu cầu tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.