Ngày 16/12/2025, tại Trụ sở Chính phủ, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và Chính phủ đồng chủ trì Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 với chủ đề “Kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh trong kỷ nguyên số”.
Trong khuôn khổ Diễn đàn, tại phiên chuyên đề Kinh tế tuần hoàn: “Thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững” do Ban Chính sách, chiến lược trung ương; Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam phối hợp tổ chức, bà Francesca Nardini - Phó Trưởng đại diện Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đã có bài phát biểu chia sẻ những thực tế quan trọng, đặt trong bối cảnh toàn cầu, trong các ngành kinh tế nói chung và tại Việt Nam nói riêng.
Bà Francesca Nardini bày tỏ vui mừng khi có mặt tại sự kiện và vinh dự được đại diện cho UNDP chia sẻ không chỉ kinh nghiệm của UNDP về kinh tế tuần hoàn, mà còn là những trải nghiệm thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam.
Theo bà Francesca Nardini, mặc dù nhận thức và hiểu biết về phát triển bền vững đã được nâng cao, nhưng trên phạm vi toàn cầu, phần lớn nền kinh tế hiện nay vẫn vận hành theo mô hình kinh tế tuyến tính. Hiện chỉ khoảng 6,9% nền kinh tế toàn cầu được vận hành theo mô hình kinh tế tuần hoàn, con số này vào năm 2025 cũng chỉ xấp xỉ 7%. Điều này đặt ra những thách thức lớn.
Kinh tế tuyến tính thường dựa trên mô hình “khai thác - sản xuất - tiêu dùng - thải bỏ”, tạo ra lượng lớn chất thải và gây áp lực nghiêm trọng lên môi trường. Đồng thời, khi các quốc gia đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng GDP nhằm giải quyết các vấn đề này, giá trị tạo ra không được giữ lại trong nền kinh tế mà bị rò rỉ dọc theo chuỗi giá trị.
Ngược lại, kinh tế tuần hoàn cho phép chúng ta tận dụng nguyên vật liệu trước khi tiêu hủy, kéo dài vòng đời sử dụng, tái chế hoặc tái sử dụng cho các mục đích khác. Nhờ đó, giá trị của vật liệu được duy trì lâu hơn trong nền kinh tế.
“Kinh tế tuần hoàn không chỉ là vấn đề môi trường; đó còn là một chiến lược kinh tế quan trọng. Với Việt Nam - một nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh, chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ và hiện là nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN, việc tính đến hiệu quả sử dụng tài nguyên là vô cùng cần thiết”, bà Francesca Nardini nhấn mạnh.
Đại diện UNDP cho biết trong ba thập kỷ qua, mức tiêu thụ nguyên vật liệu tại Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ, kéo theo nhu cầu lớn về năng lượng, cơ sở hạ tầng và tạo ra áp lực ngày càng lớn về chất thải rắn, chôn lấp, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí và biến đổi khí hậu dài hạn. Điều này đòi hỏi Việt Nam không chỉ đầu tư để giảm thiểu tác động tiêu cực, mà còn cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa phát triển kinh tế tuần hoàn.
Các dữ liệu từ châu Âu và OECD cho thấy Việt Nam có đầy đủ cơ sở để triển khai mô hình này. Theo các dự báo, đến năm 2030 và 2050, kinh tế tuần hoàn có thể giúp: giảm 30-34% chất thải đô thị; giảm 40–70% phát thải khí nhà kính; tạo thêm việc làm, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế; giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô.
“Vậy, Việt Nam nên bắt đầu từ đâu?”, bà Francesca Nardini nêu câu hỏi, đồng thời cho biết dựa trên kinh nghiệm của UNDP tại Việt Nam và toàn cầu, cách tiếp cận của chúng tôi là tập trung và thực tiễn. Thông qua các mô hình thử nghiệm, chúng ta có thể đánh giá rủi ro, cơ hội và lợi ích, từ đó đưa ra các giải pháp vững chắc hơn.
Theo UNDP, trong số các lĩnh vực ưu tiên, nông nghiệp và lương thực - thực phẩm đóng vai trò đặc biệt quan trọng, đóng góp khoảng 11,6% GDP và 26% tổng số việc làm. Việt Nam hiện sản xuất khoảng 100–105 triệu tấn nông sản mỗi năm, tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, do đó có tiềm năng rất lớn để áp dụng các giải pháp tuần hoàn.
Ngành năng lượng cũng là một trụ cột then chốt, đóng góp khoảng 4% GDP và tạo việc làm cho gần 4 triệu lao động. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và triển khai các giải pháp tuần hoàn trong lĩnh vực này sẽ giúp giảm ô nhiễm và tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Ngoài ra, các ngành như nhựa, dệt may, điện tử và đồ uống hiện chiếm tới 60% lượng chất thải chôn lấp, chủ yếu vẫn vận hành theo mô hình tuyến tính. Nếu được cải thiện thông qua thiết kế sản phẩm tốt hơn, kéo dài vòng đời vật liệu và tăng tỷ lệ tái chế, các ngành này có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn.
Tại Việt Nam, UNDP đã triển khai các mô hình nội địa hóa về kinh tế tuần hoàn. Cụ thể, tại Huế, UNDP đã hỗ trợ lập bản đồ dòng nguyên vật liệu và chất thải, xác định các điểm thất thoát và nguồn phát thải, từ đó tích hợp kinh tế tuần hoàn vào các lựa chọn đầu tư.
Kết quả phân tích cho thấy Huế xác định được 6 lĩnh vực ưu tiên với 14 sáng kiến can thiệp. Dự kiến, đến năm 2030, các sáng kiến này có thể giúp tăng 4,5% GDP khu vực, tăng 2% việc làm, và đến năm 2050 có thể giảm 41% phát thải khí nhà kính, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho thành phố.
Tổng thể, UNDP tiếp cận kinh tế tuần hoàn theo cách tiếp cận hệ thống, gắn với khung quản trị, kế hoạch hành động, thí điểm tại các địa phương như Huế và Đà Nẵng, mở rộng theo cụm ngành và chuỗi cung ứng, đồng thời bảo đảm chuyển dịch công bằng, bao trùm cả lao động phi chính thức.
Kết thúc bài phát biểu, bà Francesca Nardini nhấn mạnh: Kinh tế tuần hoàn hiện vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ, vì vậy chúng ta càng cần hành động mạnh mẽ hơn, cần biến kinh tế tuần hoàn thành chiến lược phát triển, thúc đẩy thí điểm, tạo việc làm, nâng cao kỹ năng, thu hút đầu tư công và tư, phát triển tài chính bền vững.
Phát triển vùng nguyên liệu bền vững, mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ và khai thác thị trường tín chỉ carbon, đang được xem là những giải pháp then chốt giúp ngành gỗ Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, người trồng rừng và hoàn thiện nền tảng khoa học cho phát triển vùng nguyên liệu...
Trong tiến trình chuyển từ xây dựng chính sách thị trường carbon sang vận hành thực tế, những yêu cầu về minh bạch, năng lực thực thi và niềm tin thị trường đang trở thành rào cản không nhỏ…
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.
Nghị định 112/2026/NĐ-CP về chuyển giao quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon quy định, đồng thời ba khuôn khổ trao đổi giúp Việt Nam tham gia linh hoạt vào nhiều hình thức hợp tác, đồng thời bảo đảm hoạt động trao đổi quốc tế được quản lý thống nhất và phù hợp với mục tiêu giảm phát thải quốc gia...
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.