
Sau tuần nhiều biến động, lãi suất huy động VND của các ngân hàng thương mại đã tạm ổn định. Các mức cao niêm yết chính thức tại nhiều thành viên đã vượt “trần” đồng thuận 12%/năm.
Trong những ngày đầu thực hiện đồng thuận theo thông báo của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), thị trường chứng kiến một số thành viên áp lãi suất huy động VND trên 12%/năm đã nhanh chóng rút về.
Đầu tuần này, lãi suất huy động VND đã tạm ổn định. Tuy nhiên, những mức cao hơn “trần” đồng thuận cũng chính thức khẳng định ở các biểu niêm yết.
Thời điểm này người gửi tiền có lãi suất cao nhất là 13%/năm một cách chính thức ở kỳ hạn 12 và 13 tháng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Nam Á (SeABank). Mốc 13% này cũng có tại kỳ hạn 13 tháng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á (Nam A Bank) với điều kiện khoản tiền gửi có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên.
Cũng tại Nam A Bank, sản phẩm tiết kiệm bậc thang theo số dư tiền gửi, với khoản tiền từ 100 triệu đồng trở lên, lãi suất có từ 12,1% - 13%/năm trải suốt các kỳ hạn từ 1 - 13 tháng.
Tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kiên Long (Kienlong Bank), với sản phẩm tiền gửi bậc thang VND, lãi suất áp dụng từ ngày 12/11 cho các khoản tiền gửi từ 100 triệu đồng trở lên cũng có từ 12,1% - 12,5%/năm.
Bên cạnh những thành viên trên, một số ngân hàng thương mại khác cũng đã có lãi suất cao hơn mốc 12%/năm áp cho một số kỳ hạn như tại Ngân hàng Liên doanh Việt - Nga (VRB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank); hoặc có chương trình tặng thưởng tiền mặt hấp dẫn như tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (Western Bank)…
Như vậy, việc áp lãi suất cao hơn mức đồng thuận tối đa đã được niêm yết một cách chính thức và phổ biến ở nhiều thành viên. Nhưng diễn biến chung đã tạm ổn định sau tuần nhiều xáo trộn vừa qua.
Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ở các kỳ hạn cũng đã được bình ổn sau những
can thiệp của Ngân hàng Nhà nước
. Hiện kết quả giao dịch mới nhất trên thị trường này chưa được Ngân hàng Nhà nước cập nhật, nhưng theo thông tin tham khảo từ Công ty Cổ phần Chứng khoán Tp.HCM (HSC), trong ngày đầu tuần này (15/11), lãi suất qua đêm đã giảm khá nhanh, giao dịch chỉ trong khoảng 9% - 12%/năm; trong khi tuần trước mức bình quân các ngày Ngân hàng Nhà nước cập nhật lên tới gần 13%/năm.
Trên thị trường mở, một điểm được chú ý là sau khi rút kỳ hạn 14 ngày, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục rút kỳ hạn 28 ngày và chỉ còn lại kỳ hạn 7 ngày. Điều này được HSC bình luận là “Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ quan điểm thắt chặt thanh khoản trên thị trường mở”.




Từ đầu năm đến nay, bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tác động mạnh đến Việt Nam, đặc biệt là điều hành chính sách tiền tệ. Sự kiên định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc giữ ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, không gây áp lực lên hệ thống ngân hàng; kết hợp hài hòa giữa tài khóa và tiền tệ, đã cho thấy cách tiếp cận vấn đề một cách phù hợp. Trong buổi làm việc với các ngân hàng thương mại ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng ghi nhận thành công của hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với ngành ngân hàng trong những tháng cuối năm.
Việc tiền gửi liên tục lập “kỷ lục” một phần do đây là số dư tích lũy qua nhiều kỳ, trong đó có phần lãi nhập gốc, chứ không đồng nghĩa người dân vừa đưa một lượng tiền mới tương ứng vào hệ thống ngân hàng…
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước thường xuyên đánh giá “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, điều hành các công cụ chính sách chủ động, linh hoạt, đúng thời điểm, đúng liều lượng...
Từ đầu năm 2026 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã triển khai 618 cuộc thanh tra, ban hành kết luận đối với 438 cuộc, qua đó phát hiện tổng số tiền vi phạm về kinh tế là 562.468 tỷ đồng...
Ngân hàng Nhà nước cho biết đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cấp tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của hệ thống tổ chức tín dụng đạt 5,146 triệu tỷ đồng, tăng 8,3% so với cuối năm 2025 và chiếm 25,5% tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế; nợ xấu tăng 10,5%...
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.
Trong nhiều năm, khi nói đến tăng trưởng kinh tế, Việt Nam thường đặt trọng tâm vào ba động lực truyền thống: xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, dư địa tăng trưởng của các động lực cũ đang dần thu hẹp, buộc Việt Nam phải tìm kiếm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao hơn, ít phụ thuộc vào tài nguyên và có khả năng tạo ra nguồn thu ngoại tệ bền vững.