
Trao đổi với báo giới, TS. Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược (Ngân hàng Nhà nước) đã khẳng định nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao trong 7 tháng đầu năm chủ yếu do tăng tiền trong lưu thông.
Ông Nghĩa cho biết, các nước đều lấy chỉ số CPI để đo lạm phát và thường tính cho cùng kỳ, chứ không tính so với đầu năm. Mục tiêu ổn định giá bao giờ cũng là mục tiêu trung hạn. Trên thế giới cũng ít có quốc gia nào đưa ra mục tiêu của chính sách kinh tế là "lạm phát chỉ cần thấp hơn mức độ tăng trưởng kinh tế là được", trong khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế được kỳ vọng là khá cao.
Điều này hàm ý rằng chúng ta đeo đuổi một chính sách tiền tệ nới lỏng. Chính sách này có thể có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Nhưng trong trung hạn và dài hạn chính nó lại là yếu tố làm giảm tăng trưởng kinh tế do lạm phát cao thì lãi suất tăng lên, đầu tư giảm đi, hiệu quả của đầu tư cũng giảm.
Đặc biệt ở Việt Nam, trong điều kiện lãi suất tăng, vốn ngân hàng sẽ dồn vào các doanh nghiệp lớn, dự án lớn khu vực doanh nghiệp nhà nước (thường là hiệu quả thấp). Kết quả là các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng khó tiếp cận vốn ngân hàng hơn, hiệu quả tối đa hoá đầu tư bị giảm sút. Lạm phát 8,4% trong 7 tháng đầu năm ở Việt Nam là cao so mức trung bình của thế giới và khu vực (2,5%-3,5%).
Theo ông, đâu là nguyên nhân chủ yếu đưa lạm phát đến mức cao?
Lạm phát dù ở đâu và bất cứ lúc nào cũng là vấn đề tiền tệ. Nói cách khác, lạm phát ở Việt Nam năm 2007 cũng vẫn thế thôi. Một số ý kiến cho rằng do giá xăng dầu, giá nguyên vật liệu, giá thực phẩm tăng dẫn đến lạm phát (kiểu chi phí đẩy). Tuy nhiên chi phí có "đẩy" khiến cho toàn bộ mặt bằng giá cả tăng lên (lạm phát) cũng phải nhờ tổng cầu tăng (tiền tăng) hoặc tổng cung giảm (GDP giảm).
Tôi cho rằng ở Việt Nam lạm phát chủ yếu vẫn là do tăng tổng cầu (tăng tiền); điều này có nguyên nhân chủ yếu là do lượng vốn từ bên ngoài vào nhiều buộc Ngân hàng Nhà nước phải mua vào dự trữ để ổn định tương đối tỉ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu và đầu tư.
Nước nào đeo đuổi mục tiêu ổn định tương đối tỉ giá hối đoái cũng phải làm như vậy. Và nước nào cũng đồng thời phát hành trái phiếu chính phủ và hối phiếu ngân hàng trung ương để hút bớt lượng tiền dư thừa này. Chúng ta cũng đã làm, nhưng hút chưa đủ mạnh lại thiếu nhịp nhàng, kịp thời và đồng bộ. Vì vậy, chưa đạt được kết quả như mong muốn...
Ông bình luận thế nào về các biện pháp khác như kiểm soát giá cả hoặc giảm thuế nhập khẩu?
Ở nước ta, kiểm soát giá cả với kỳ vọng sẽ đạt được hai mục đích: Chống độc quyền và chống lạm phát. Về lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tế của thế giới đã cho thấy không thể chống độc quyền bằng kiểm soát giá vì bản chất của độc quyền là lợi dụng vị trí thống lĩnh thị trường để tăng giá, trên cơ sở kiểm soát cung hàng hoá.
Vì vậy, không thể vừa duy trì độc quyền vừa kiểm soát giá cả mà về cơ bản phải xoá độc quyền, tăng cạnh tranh để ổn định giá. Còn việc kiểm soát giá để chống lạm phát chỉ có tác dụng nhất thời, bởi vì giá cả tăng kiểu lạm phát (tăng toàn tuyến) được quyết định bởi mức tăng tổng cầu cao hơn tổng cung. Chừng nào tổng cầu vẫn còn cao hơn nhiều so với tổng cung thì giá cả vẫn sẽ tiếp tục tăng, bất chấp kiểm soát giá kiểu gì, đó là quy luật của kinh tế thị trường.
Về biện pháp giảm thuế để giảm giá cũng có ý nghĩa tương tự, nhưng tác động tiêu cực của nó còn lớn hơn, ngoài việc tăng thâm hụt ngân sách, nó còn là vòng xoáy làm tăng thâm hụt thương mại và thâm hụt cán cân vãng lai.
Đến lượt nó thâm hụt cán cân vãng lai tạo sức ép tăng tỉ giá hối đoái thực. Nếu tỉ giá hối đoái danh nghĩa không được điều chỉnh thì xuất khẩu sẽ giảm trong trung hạn. Chưa kể có một số danh mục giảm thuế có thể tác động đến sản xuất mặt hàng đó trong nước.
Vậy theo ông, sắp tới Nhà nước nên làm gì?
Dòng vốn nước ngoài vào nhiều gây áp lực lạm phát là chuyện bình thường của một nền kinh tế mới nổi. Trong tương lai dòng vốn đổ vào ngày càng tăng, quy mô thị trường tài chính ngày càng lớn.
Chính sách "trung hoà" tiền tệ (hút bớt tiền cung ứng cho mua dự trữ ngoại tệ) là chính sách thường xuyên. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần phối hợp chặt chẽ hơn để xử lý, trong đó ưu tiên trước hết là việc phát hành trái phiếu chính phủ và gắn với nó là đẩy nhanh tốc độ giải ngân các dự án đầu tư.
Việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước không nên quá lạm dụng, bởi vì nếu Ngân hàng Nhà nước phải trả lãi cho một khối lượng tín phiếu do mình phát hành quá lớn dẫn đến dòng tiền của Ngân hàng Nhà nước bị âm (thu ít-chi nhiều) thì còn tồi tệ hơn.
Ngân hàng Nhà nước sẽ mất uy tín và khả năng ứng phó với những cú sốc tài chính bị hạn chế. Trong trường hợp buộc phải phát hành hoặc sử dụng ngoại tệ để ứng phó thì lạm phát sẽ bùng nổ. Trên thế giới chỉ có một số rất ít ngân hàng trung ương phát hành tín phiếu của mình một cách thường xuyên và số lượng lớn.




Trong 6 tháng cuối năm 2026, tỷ giá USD/VND đứng trước nhiều sức ép đan xen từ bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế. Đồng USD vẫn có cơ sở duy trì sức mạnh tương đối nhờ mặt bằng lãi suất Mỹ cao, rủi ro địa chính trị và giá năng lượng, trong khi nhu cầu ngoại tệ trong nước tiếp tục ở mức lớn. Tuy vậy, một số yếu tố kiềm chế cũng đang xuất hiện, khiến tỷ giá khó tăng quá mạnh…
Sáng 16/6, giá vàng trong nước phân hóa mạnh giữa các thương hiệu khi SJC, DOJI và Phú Quý đồng loạt tăng giá mua cao hơn giá bán, trong khi Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận và Bảo Tín Minh Châu giữ giá. Chênh lệch với giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục neo quanh 12 – 13,5 triệu đồng/lượng...
Thông tin Mỹ – Iran tiến gần một thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng tại Trung Đông đang tạo thêm biến số cho thị trường vàng, song theo các chuyên gia, đây chưa phải yếu tố đủ sức chi phối xu hướng giá. Trong nước, nguồn cung hạn chế được xem là yếu tố giúp mặt bằng giá vàng duy trì ở mức cao, dù thị trường vẫn có thể xuất hiện các nhịp điều chỉnh theo diễn biến của giá vàng thế giới...
Ngân hàng UOB Việt Nam vừa công bố quyết định bổ nhiệm ông Phạm Hồng Hải vào vị trí Phó Tổng giám đốc. Một động thái quan trọng nhằm củng cố vị thế của ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam…
Trong phiên giao dịch hôm nay (15/6), tỷ giá USD tự do tăng 50 - 60 đồng so với cuối tuần trước, trong khi Ngân hàng Nhà nước có nhịp nâng tỷ giá trung tâm mạnh hơn thường lệ với mức tăng 10 đồng. Tuy nhiên, khoảng cách gần 100 đồng giữa thị trường tự do và ngân hàng cùng diễn biến giá mua USD tại các nhà băng cho thấy áp lực vẫn trong tầm kiểm soát…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.