
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Hai, 15/12/2025
20/08/2007, 15:24
Nội dung cuộc trò chuyện với TS. Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược (Ngân hàng Nhà nước)
Trao đổi với báo giới, TS. Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược (Ngân hàng Nhà nước) đã khẳng định nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao trong 7 tháng đầu năm chủ yếu do tăng tiền trong lưu thông.
Ông Nghĩa cho biết, các nước đều lấy chỉ số CPI để đo lạm phát và thường tính cho cùng kỳ, chứ không tính so với đầu năm. Mục tiêu ổn định giá bao giờ cũng là mục tiêu trung hạn. Trên thế giới cũng ít có quốc gia nào đưa ra mục tiêu của chính sách kinh tế là "lạm phát chỉ cần thấp hơn mức độ tăng trưởng kinh tế là được", trong khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế được kỳ vọng là khá cao.
Điều này hàm ý rằng chúng ta đeo đuổi một chính sách tiền tệ nới lỏng. Chính sách này có thể có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Nhưng trong trung hạn và dài hạn chính nó lại là yếu tố làm giảm tăng trưởng kinh tế do lạm phát cao thì lãi suất tăng lên, đầu tư giảm đi, hiệu quả của đầu tư cũng giảm.
Đặc biệt ở Việt Nam, trong điều kiện lãi suất tăng, vốn ngân hàng sẽ dồn vào các doanh nghiệp lớn, dự án lớn khu vực doanh nghiệp nhà nước (thường là hiệu quả thấp). Kết quả là các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng khó tiếp cận vốn ngân hàng hơn, hiệu quả tối đa hoá đầu tư bị giảm sút. Lạm phát 8,4% trong 7 tháng đầu năm ở Việt Nam là cao so mức trung bình của thế giới và khu vực (2,5%-3,5%).
Theo ông, đâu là nguyên nhân chủ yếu đưa lạm phát đến mức cao?
Lạm phát dù ở đâu và bất cứ lúc nào cũng là vấn đề tiền tệ. Nói cách khác, lạm phát ở Việt Nam năm 2007 cũng vẫn thế thôi. Một số ý kiến cho rằng do giá xăng dầu, giá nguyên vật liệu, giá thực phẩm tăng dẫn đến lạm phát (kiểu chi phí đẩy). Tuy nhiên chi phí có "đẩy" khiến cho toàn bộ mặt bằng giá cả tăng lên (lạm phát) cũng phải nhờ tổng cầu tăng (tiền tăng) hoặc tổng cung giảm (GDP giảm).
Tôi cho rằng ở Việt Nam lạm phát chủ yếu vẫn là do tăng tổng cầu (tăng tiền); điều này có nguyên nhân chủ yếu là do lượng vốn từ bên ngoài vào nhiều buộc Ngân hàng Nhà nước phải mua vào dự trữ để ổn định tương đối tỉ giá hối đoái có lợi cho xuất khẩu và đầu tư.
Nước nào đeo đuổi mục tiêu ổn định tương đối tỉ giá hối đoái cũng phải làm như vậy. Và nước nào cũng đồng thời phát hành trái phiếu chính phủ và hối phiếu ngân hàng trung ương để hút bớt lượng tiền dư thừa này. Chúng ta cũng đã làm, nhưng hút chưa đủ mạnh lại thiếu nhịp nhàng, kịp thời và đồng bộ. Vì vậy, chưa đạt được kết quả như mong muốn...
Ông bình luận thế nào về các biện pháp khác như kiểm soát giá cả hoặc giảm thuế nhập khẩu?
Ở nước ta, kiểm soát giá cả với kỳ vọng sẽ đạt được hai mục đích: Chống độc quyền và chống lạm phát. Về lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tế của thế giới đã cho thấy không thể chống độc quyền bằng kiểm soát giá vì bản chất của độc quyền là lợi dụng vị trí thống lĩnh thị trường để tăng giá, trên cơ sở kiểm soát cung hàng hoá.
Vì vậy, không thể vừa duy trì độc quyền vừa kiểm soát giá cả mà về cơ bản phải xoá độc quyền, tăng cạnh tranh để ổn định giá. Còn việc kiểm soát giá để chống lạm phát chỉ có tác dụng nhất thời, bởi vì giá cả tăng kiểu lạm phát (tăng toàn tuyến) được quyết định bởi mức tăng tổng cầu cao hơn tổng cung. Chừng nào tổng cầu vẫn còn cao hơn nhiều so với tổng cung thì giá cả vẫn sẽ tiếp tục tăng, bất chấp kiểm soát giá kiểu gì, đó là quy luật của kinh tế thị trường.
Về biện pháp giảm thuế để giảm giá cũng có ý nghĩa tương tự, nhưng tác động tiêu cực của nó còn lớn hơn, ngoài việc tăng thâm hụt ngân sách, nó còn là vòng xoáy làm tăng thâm hụt thương mại và thâm hụt cán cân vãng lai.
Đến lượt nó thâm hụt cán cân vãng lai tạo sức ép tăng tỉ giá hối đoái thực. Nếu tỉ giá hối đoái danh nghĩa không được điều chỉnh thì xuất khẩu sẽ giảm trong trung hạn. Chưa kể có một số danh mục giảm thuế có thể tác động đến sản xuất mặt hàng đó trong nước.
Vậy theo ông, sắp tới Nhà nước nên làm gì?
Dòng vốn nước ngoài vào nhiều gây áp lực lạm phát là chuyện bình thường của một nền kinh tế mới nổi. Trong tương lai dòng vốn đổ vào ngày càng tăng, quy mô thị trường tài chính ngày càng lớn.
Chính sách "trung hoà" tiền tệ (hút bớt tiền cung ứng cho mua dự trữ ngoại tệ) là chính sách thường xuyên. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần phối hợp chặt chẽ hơn để xử lý, trong đó ưu tiên trước hết là việc phát hành trái phiếu chính phủ và gắn với nó là đẩy nhanh tốc độ giải ngân các dự án đầu tư.
Việc phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước không nên quá lạm dụng, bởi vì nếu Ngân hàng Nhà nước phải trả lãi cho một khối lượng tín phiếu do mình phát hành quá lớn dẫn đến dòng tiền của Ngân hàng Nhà nước bị âm (thu ít-chi nhiều) thì còn tồi tệ hơn.
Ngân hàng Nhà nước sẽ mất uy tín và khả năng ứng phó với những cú sốc tài chính bị hạn chế. Trong trường hợp buộc phải phát hành hoặc sử dụng ngoại tệ để ứng phó thì lạm phát sẽ bùng nổ. Trên thế giới chỉ có một số rất ít ngân hàng trung ương phát hành tín phiếu của mình một cách thường xuyên và số lượng lớn.
Ngân hàng Nhà nước cho biết Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược có sự tham gia của 23 ngân hàng thương mại, quy mô có thể lên tới 500 nghìn tỷ đồng. Lãi suất cho vay ưu đãi của gói tín dụng này sẽ thấp hơn tối thiểu từ 1% đến 1,5%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay…
Tính đến ngày 11/12, Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán của Ngân hàng Nhà nước (SIMO) đã phát cảnh báo gian lận, lừa đảo tới 2,13 triệu lượt khách hàng. Trong đó, hơn 670 nghìn lượt khách đã chủ động tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng giá trị giao dịch tương ứng lên tới hơn 2.570 tỷ đồng…
Đại diện Ngân hàng Nhà nước cho biết việc xây dựng Sàn giao dịch vàng quốc gia sẽ được nghiên cứu theo hướng thận trọng, có lộ trình rõ ràng và bám sát thực tiễn, trong bối cảnh thị trường vàng trong nước biến động mạnh và nhu cầu hoàn thiện cơ chế quản lý ngày càng cấp thiết...
Cập nhật biểu lãi suất tiết kiệm của hơn 30 ngân hàng ngày 8/12 so với cuối tháng 11, nhiều đơn vị tiếp tục tăng lãi suất khoảng 0,5 đến 0,6 điểm phần trăm ở các kỳ hạn dưới 9 tháng. Đối với lãi suất 12 tháng, có đơn vị tăng 1,2 điểm phần trăm so với cuối tháng 11/2025. Mức chênh lệch lãi suất huy động giữa các ngân hàng khá lớn, phản ánh chiến lược huy động vốn khác nhau…
Kết thúc phiên sáng 8/12, tỷ giá USD trên thị trường tự do phục hồi nhẹ sau nhịp giảm sâu tuần trước. Mỗi USD chiều mua tăng 30 đồng, lên mức 27.230 VND; chiều bán tăng 40 đồng với 27.300 VND. Đáng chú ý, chênh lệch giữa tỷ giá tự do và tỷ giá chính thức thu hẹp rõ rệt, từ mức 1.522 đồng hồi giữa tháng 11 xuống còn khoảng 890 đồng/USD hiện nay…
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: