Nhu cầu của thị trường lao động nước ngoài đối với lao động nữ không cao và đa dạng như nhu cầu nhận lao động nam, thu nhập trung bình của lao động nữ thấp hơn, là đối tượng “dễ tổn thương”, dễ bị lạm dụng và trở thành nạn nhân của hoạt động buôn người….
Đó là những thiệt thòi của phụ nữ đi làm việc ở nước ngoài mà Quỹ phát triển phụ nữ Liên hợp quốc nêu ra tại hội nghị nằm trong khuôn khổ dự án “Tăng quyền năng cho phụ nữ đi làm việc ở nước ngoài” do Quỹ Phát triển phụ nữ Liên Hiệp Quốc (UNIFEM) và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa tổ chức tại Hà Nội.
Theo thống kê của UNIFEM, hiện Việt Nam có khoảng 500.000 lao động nữ đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm khoảng 30% tổng số người xuất khẩu lao động. Các thị trường nhận nhiều lao động nữ là Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Macao.
Bà Suzette Mitchell, Trưởng đại diện UNIFEM cho rằng, lực lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài nói chung và lao động nữ nói riêng đã có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế trong nước, cho gia đình họ cũng như đóng góp vào sự phát triển kinh tế nơi họ làm việc. Ngoài số tiền gần 2 tỷ USD mà họ gửi về nước hàng năm, hết thời hạn hợp đồng, lao động còn tạo cho mình một tay nghề khá vững để tham gia thị trường lao động trong nước.
Tuy nhiên, thực tế những lao động nữ khi tham gia xuất khẩu lao động vẫn phải chịu quá nhiều thiệt thòi. “Di cư lao động cũng có thể dẫn tới nguy cơ bị bóc lột sức lao động, bị lạm dụng và trở thành nạn nhân của hoạt động buôn người. Đặc biệt với đối tượng “dễ tổn thương” như phụ nữ”, bà Mitchell nói.
Cũng theo UNIFEM, điều đáng lo ngại hơn hiện nay là nhiều chính sách pháp luật liên quan đến vấn đề này chưa được thể chế hóa dẫn đến có quá nhiều lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua các kênh không chính thống. Nhiều doanh nghiệp vì đồng tiền mà bất chấp cả chuẩn mực đạo đức trong quá trình tuyển dụng, nạn lừa đảo đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài ngày càng tăng.
Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước cũng cho rằng, vì những lý do trên nên mặc dù nhu cầu đi xuất khẩu lao động của lao động nữ rất đông nhưng số lượng vẫn hạn chế.
Theo ông Quỳnh, đã đến lúc cần có thêm những quy định pháp lý nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho lao động nữ Việt Nam thực hiện quyền bình đẳng của mình trong việc tìm kiếm cơ hội, nâng cao thu nhập khi xuất khẩu lao động.
Dù đã đạt bước tiến lớn khi đưa hàng loạt dịch vụ công lên môi trường số và xây dựng cơ sở dữ liệu cho 50.000 cơ sở giáo dục, tuy nhiên công cuộc chuyển đổi số của ngành giáo dục vẫn chưa thực sự bứt phá do vướng nhiều rào cản. Từ hạ tầng, an toàn thông tin đến rủi ro từ ứng dụng AI và liêm chính học thuật đang đặt ra bài toán cấp thiết cần sớm có lời giải...
Do một số công việc được thực hiện cho thuê lại lao động theo danh mục hiện hành chưa thực sự thể hiện rõ nội hàm. Bộ Nội vụ đang đề xuất sửa đổi để tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người lao động trong thời gian tới...
Bộ Nội vụ hướng dẫn giải quyết chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục tại các cơ sở giáo dục chịu sự tác động của việc sắp xếp...
Chính phủ quy định mỗi cơ sở giáo dục sau sắp xếp chỉ có 1 hiệu trưởng hoặc 1 giám đốc. Số hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc dôi dư sẽ được bố trí vào vị trí việc làm nhà giáo hoặc vị trí việc làm khác phù hợp với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên ngành đào tạo...
Theo dữ liệu vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố từ kết quả tổng hợp báo cáo của 34 địa phương, tổng số cơ sở giáo dục công lập dự kiến giảm từ 37.386 xuống 20.284 cơ sở, giảm 17.102 đầu mối, tương ứng 45,7%...
Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đang trải qua tuần làm việc đầu tiên. Hàng loạt các dự án Luật, dự thảo Luật quan trọng được các đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận. Trong đó có dự án Nghị quyết nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm.
Chiều 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”.