Các NDC thế hệ mới có tính toàn diện cao hơn khi bao hàm đầy đủ các yếu tố của Thỏa thuận Paris — từ giảm nhẹ, thích ứng, tài chính đến chuyển giao công nghệ và chuyển dịch công bằng.
Để chuẩn bị cho Hội nghị các bên tham gia Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 31 (COP31) diễn ra tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ, từ ngày 9-20/11, Cơ quan Khí hậu Liên Hợp Quốc được giao nhiệm vụ soạn thảo ba báo cáo bao gồm Báo cáo tổng hợp về Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), Báo cáo tổng hợp về Báo cáo minh bạch hai năm một lần (BTR) và Báo cáo tiến độ về Kế hoạch thích ứng quốc gia (NAP).
Theo tuyên bố từ ông Simon Stiell, Thư ký điều hành Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UN Climate Change), các báo cáo này cho thấy ngày càng có nhiều chính phủ thực hiện hành động vì khí hậu trên khắp các lĩnh vực kinh tế, nhằm tận dụng những lợi ích to lớn từ năng lượng sạch và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
Qua đó, các báo cáo này là minh chứng rõ nét cho thấy hầu hết các nền kinh tế lớn – cùng nhiều nền kinh tế quy mô vừa và nhỏ – hiện coi hành động vì khí hậu là động lực trọng tâm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, cũng như đảm bảo nguồn năng lượng an toàn với chi phí phải chăng.
Báo cáo Tổng hợp NDC 2026 cung cấp thêm bằng chứng về cách các quốc gia chuyển cam kết Thỏa thuận Paris thành hành động thực tế. Từ ngày 1/1/2024 đến ngày 31/8/2026, đã có 127 bản NDC mới được ghi nhận từ 154 bên, bao phủ khoảng 70% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu.
Các NDC thế hệ mới có tính toàn diện cao hơn khi bao hàm đầy đủ các yếu tố của Thỏa thuận Paris — từ giảm nhẹ, thích ứng, tài chính đến chuyển giao công nghệ và chuyển dịch công bằng.
Cách tiếp cận toàn xã hội cũng gia tăng mạnh mẽ: 98% các bên báo cáo có sự tham gia của chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và khu vực tư nhân, tăng so với mức 70% trước đây. Bên cạnh đó, 90% các bên khẳng định cam kết dựa trên kết quả Đánh giá nỗ lực toàn cầu (GST) lần thứ nhất, và 65% nhấn mạnh đóng góp của năng lượng sạch đối với an ninh năng lượng.
Tuy nhiên, dự báo giảm phát thải vẫn đang chậm tiến độ so với yêu cầu khoa học. Các cam kết hiện tại dự kiến chỉ giúp giảm khoảng 6% lượng phát thải toàn cầu vào năm 2035 so với mức năm 2019. Nếu thực thi đầy đủ mọi cam kết, mức giảm có thể đạt khoảng 9%, đòi hỏi sự hợp tác và phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.
Báo cáo NAP 2026 đánh dấu bước chuyển từ theo dõi quá trình xây dựng sang đánh giá việc triển khai thực tế.
Tính đến ngày 20/10/2026, đã có 146 quốc gia khởi động tiến trình NAP và 81 quốc gia đang phát triển đã nộp báo cáo. Dù vậy, rào cản lớn vẫn tồn tại, đặc biệt là trong tiếp cận nguồn vốn.
Báo cáo chỉ ra khoảng cách lớn từ khâu lập kế hoạch đến thực thi: rào cản không chỉ dừng ở việc đề xuất dự án mà còn ở khâu phê duyệt và đưa nguồn vốn đến đúng những nơi cần nhất. Ngay cả khi dự án đã được phê duyệt, thời gian xử lý kéo dài và sự chậm trễ trong giải ngân vẫn đang cản trở các quốc gia biến kế hoạch thành hành động trên thực địa.
Báo cáo BTR 2026 tổng hợp tiến độ thực hiện NDC trong giai đoạn 2020–2022, cho thấy chính sách khí hậu ngày càng được lồng ghép sâu rộng tại nhiều quốc gia. Hiện có 80% các bên thu hút sự tham gia của các bên liên quan ngoài chính phủ và 92% gắn kết hành động khí hậu với các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).
Thống kê đã có thêm hơn 30 BTR mới được nộp, nâng tổng số bên nộp báo cáo lên 137 quốc gia (bao phủ khoảng 85% lượng phát thải toàn cầu). Trong giai đoạn 2020–2022, 61 bên đã đạt tiến bộ so với mục tiêu NDC. Đáng chú ý, thích ứng đã trở thành trọng tâm cốt lõi khi có tới 92% các bên tự nguyện đưa nội dung này vào báo cáo BTR.
Ngoài ba báo cáo chính, Ủy ban Thường vụ về Tài chính (SCF) thuộc Liên Hợp Quốc cũng đã công bố hai báo cáo mới đánh giá tiến độ huy động tài chính khí hậu.
Báo cáo Tiến độ lần thứ 3 về Mục tiêu 100 tỷ USD ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể trong hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển cho các nước đang phát triển giai đoạn 2020–2024. Báo cáo chỉ ra mục tiêu 100 tỷ USD/năm đã đạt được trong các năm 2022, 2023 và 2024, cho thấy các biện pháp tăng cường vốn công và huy động vốn tư nhân đã phát huy hiệu quả hơn. Dù vậy, báo cáo cũng lưu ý những khác biệt trong phương pháp đo lường cùng các thách thức kéo dài về khả năng tiếp cận, chi phí vốn và việc đáp ứng đúng nhu cầu của các nước đang phát triển.
Mặc dù các báo cáo này tiếp tục nhắc nhở về những thách thức khó khăn trong giai đoạn hiện nay, chúng cũng cho thấy các quốc gia vẫn đang kiên định và nỗ lực tiến về phía trước.
Điều này hoàn toàn dễ hiểu, bởi tác động của biến đổi khí hậu đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn đối với mọi cộng đồng và nền kinh tế qua từng năm. Hành động vì khí hậu đồng nghĩa với việc xây dựng các cộng đồng an toàn hơn, nền kinh tế có sức cạnh tranh cao hơn, đồng thời giúp giảm chi phí cho các hộ gia đình, chính phủ và doanh nghiệp – đặc biệt là trong bối cảnh cuộc khủng hoảng chi phí nhiên liệu hóa thạch vẫn đang tiếp diễn.
Tuy nhiên, các báo cáo năm nay một lần nữa khẳng định rằng tiến trình chung vẫn còn rất hạn chế, quá trình chuyển đổi toàn cầu diễn ra không đồng đều, và nhiều quốc gia đang phải đối mặt với những rào cản đáng kể trong việc thực hiện các mục tiêu và cam kết của mình.
Với trọng tâm là các biện pháp thiết thực nhằm thúc đẩy quá trình triển khai, Hội nghị COP31 tại Thổ Nhĩ Kỳ có thể góp phần giải quyết một số khoảng trống then chốt đã được nêu trong các báo cáo năm nay. Điều này có thể thực hiện thông qua các cuộc đàm phán – hướng tới những kết quả đầy tham vọng về giảm nhẹ, thích ứng, tài chính khí hậu và chuyển đổi công bằng – cũng như thông qua việc triển khai các giải pháp trong khuôn khổ Chương trình Hành động Khí hậu Toàn cầu (Global Climate Action Agenda).
Chương trình Hành động Khí hậu Toàn cầu sẽ mở ra những cơ hội nhằm đẩy mạnh điện hóa, cải thiện khả năng tiếp cận tài chính, cũng như giảm thiểu rác thải và tác động của khí methane – một chất gây ô nhiễm cực kỳ nguy hại. Việc đẩy mạnh điện khí hóa, kiểm soát khí thải methane và tiến tới mục tiêu không rác thải đều là những bước đi quan trọng, đúng hướng.
"Bằng cách xây dựng sự hỗ trợ, các thỏa thuận và quan hệ đối tác cần thiết để chuyển đổi các cam kết thành kết quả thực tế, COP31 có thể mang lại những lợi ích to lớn từ khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cùng nguồn năng lượng sạch, an toàn và giá rẻ đến với nhiều người hơn trên khắp thế giới," ông Simon Stiell nhấn mạnh.
Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho biết nồng độ khí nhà kính trong khí quyển đã đạt mức cao chưa từng thấy vào năm 2025, điều này có khả năng làm hành tinh nóng lên hơn nữa và dẫn đến nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan hơn...
Tại AMAF 48, Việt Nam đề xuất ba ưu tiên gồm tăng cường an ninh lương thực và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng nông sản, đổi mới sáng tạo...
Duy trì sản lượng khai thác trong nước, đẩy mạnh tìm kiếm dầu khí ở nước ngoài, phát triển chuỗi khí - điện, LNG và các nguồn năng lượng mới là những định hướng chiến lược Petrovietnam xác định nhằm bảo đảm tăng trưởng, an ninh năng lượng và thực hiện mục tiêu giảm phát thải...
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Bên cạnh việc tăng cường năng lực cho Cục Khí tượng Thủy văn, Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai; giai đoạn 2026-2028 sẽ thí điểm các mô hình nâng cao năng lực phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Đà Nẵng và Đắk Lắk. Các cơ quan sẽ xây dựng các mô hình cảnh báo lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất chi tiết đến cấp xã...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Máy bay không người lái (drone) được mở rộng ứng dụng trong phun thuốc bảo vệ thực vật, gieo sạ và bón phân, góp phần cơ giới hóa sản xuất, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả canh tác, hướng tới phát triển nông nghiệp hiện đại.