Báo cáo Savills Global Occupier Insight - Industrial Focus 2025 đánh giá Việt Nam sở hữu vị trí địa lý chiến lược cùng đường bờ biển trải dài, đã tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển mạng lưới cảng biển rộng khắp và giàu tiềm năng.
Hệ thống cảng biển này không chỉ là trụ cột thúc đẩy xuất khẩu, mà còn là mắt xích quan trọng để kết nối thương mại quốc tế, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh đối với hàng hóa Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Đáng chú ý, ở khu vực miền Bắc, cảng nước sâu Lạch Huyện giữ vai trò là cửa ngõ thương mại quan trọng của các tỉnh công nghiệp thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Còn tại miền Nam, cảng Cát Lái và Cái Mép – Thị Vải hoạt động như những trung tâm logistics chủ chốt, kết nối Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) với các tuyến vận tải biển quốc tế.
Theo Hiệp hội Cảng biển Việt Nam, trong năm 2024, hệ thống cảng biển trên cả nước đã xử lý khoảng 22 triệu TEUs và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng. Không những thế, thời gian gần đây, Việt Nam có các bước tiến đáng kể khi đồng bộ hóa mở rộng cảng biển với phát triển hạ tầng logistics và công nghiệp phụ trợ. Nhờ đó, cảng nước sâu như Cái Mép – Thị Vải hiện được bao quanh bởi hệ thống logistics hoàn chỉnh, gồm: khu công viên logistics, kho ngoại quan, kho lạnh hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Để tạo thêm động lực cho ngành này, đầu năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ với tổng vốn tối thiểu 50.000 tỷ đồng (1,96 tỷ USD). Song song với đó, cảng nước sâu Liên Chiểu dự kiến hoàn thành vào năm 2025 cũng sẽ trở thành hạ tầng quan trọng để vận chuyển hàng hóa của Đà Nẵng ra khỏi khu vực Tây Nguyên, Lào và Đông Bắc Thái Lan, cho phép kết nối đa phương thức với hành lang logistics.
Dù vậy, ông Thomas Rooney, Phó Giám đốc dịch vụ bất động sản công nghiệp, Savills Hà Nội, cho biết tiến độ phát triển cơ sở hạ tầng không đồng đều. Tại một số tỉnh, mặc dù có đất công nghiệp dồi dào, giá cả phải chăng nhưng chất lượng và sự sẵn có của cơ sở hạ tầng logistics vẫn hạn chế. Những thách thức chính là không gian kho bãi chất lượng cao thiếu hụt, năng lực kho lạnh còn khiêm tốn, thiếu liên kết đa phương thức… Ngoài ra, hoạt động kết nối chặng cuối giữa cảng biển và trung tâm sản xuất vẫn cần đầu tư lớn, nhất là ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Thực tế hiện nay, khi các nhà sản xuất toàn cầu dịch chuyển hoạt động, nhiều doanh nghiệp đã điều chỉnh chiến lược lựa chọn địa điểm, ưu tiên những khu vực gần cảng nước sâu và hành lang logistics. Xu hướng này thể hiện rất rõ tại Việt Nam.
Chẳng hạn, ở phía Nam, Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) là địa phương nổi bật về việc thu hút khách thuê quy mô lớn, nhờ lợi thế tiếp cận trực tiếp cảng Cái Mép và các tuyến vận tải quốc tế. Trong khi miền Bắc, Hải Phòng cùng khu vực phụ cận lại ngày càng được ưa chuộng bởi hạ tầng cảng biển được nâng cấp và hiệu quả thông quan không ngừng cải thiện. Bên cạnh đó, các cụm công nghiệp mới nổi như: Quảng Ninh, Thanh Hóa hay Đà Nẵng, cũng dần khẳng định vị thế, không chỉ nhờ chi phí cạnh tranh mà còn nhờ dịch vụ logistics ngày càng mở rộng. Các địa phương này được giới đầu tư đánh giá cao về khả năng kết nối với cảng biển và các hành lang xuyên biên giới.
Ông Rooney cho rằng sự thay đổi trong ưu tiên của khách thuê phản ánh một xu hướng lớn hơn: phát triển công nghiệp tại Việt Nam không chỉ dựa vào quỹ đất, mà đang chuyển dịch sang chú trọng vào khả năng sẵn sàng về logistics và tạo thuận lợi cho thương mại.
Đáng chú ý, việc tái tổ chức hành chính, khi một số địa phương được sáp nhập, những trung tâm công nghiệp trước đây nằm sâu trong đất liền nay có điều kiện tiếp cận trực tiếp với hạ tầng thương mại hàng hải. Những thay đổi này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý, thực tế còn mang lại lợi ích rõ rệt cho nhà sản xuất và nhà đầu tư: chuỗi cung ứng ngắn hơn, chi phí vận chuyển giảm và quy trình xuất khẩu tinh gọn hơn…
Song, đại diện Savills cũng nhấn mạnh sự chuyển đổi công nghiệp và logistics của Việt Nam không diễn ra một cách riêng lẻ, mà gắn liền với những thay đổi toàn cầu trong thương mại, sản xuất và tiêu dùng. Khi các công ty đang ưu tiên khả năng phục hồi chuỗi cung ứng, tính trung lập về địa chính trị và sự gần gũi với những thị trường tiêu dùng tăng trưởng nhanh, thì Việt Nam có một vị trí lý tưởng để hưởng lợi.
Dẫu vậy, cơ hội này không tự nhiên mà đến. Để tận dụng thời cơ, Việt Nam cần đảm bảo hệ thống cảng biển không chỉ vận hành hiệu quả, mà còn được kết nối chặt chẽ trong một hệ sinh thái logistics đồng bộ. Đồng thời, các khu công nghiệp phải được trang bị đầy đủ dịch vụ, hạ tầng kết nối và sẵn sàng trở thành những điểm đến chiến lược cho các nhà sản xuất quốc tế trong tương lai.




Có một khoảng cách lên tới hơn 2 điểm phần trăm về lãi suất vay thế chấp nhà giữa thị trường có mức lãi suất thấp nhất và cao nhất trong eurozone...
Trong những tháng đầu năm 2026, thị trường bất động sản tiếp tục có nhiều diễn biến đáng chú ý. Bên cạnh sự thay đổi về mức độ quan tâm giữa các địa phương, từng phân khúc cũng ghi nhận những xu hướng khác nhau về giá bán, nhu cầu tìm kiếm và nhu cầu thuê, phản ánh sự dịch chuyển của thị trường trong giai đoạn hiện nay…
Với hệ thống di sản lâu đời, mạng lưới không gian công cộng, các hoạt động văn hóa đặc trưng, cùng hệ sinh thái dịch vụ phục vụ du lịch đã được hình thành qua nhiều thập kỷ, Hà Nội đang sở hữu những nền tảng quan trọng giúp nâng cao sức hấp dẫn của điểm đến, cũng như giá trị của thị trường khách sạn trong dài hạn…
Đến nay, cả nước đã xây dựng dữ liệu cho hơn 64,42 triệu thửa đất trên tổng số hơn 102,46 triệu thửa đất cần thực hiện, đạt 63%. Trong số này, khoảng 28,77 triệu thửa đất được làm sạch theo tiêu chí “đúng - đủ - sạch - sống”, chiếm 45% số dữ liệu đã xây dựng, đủ điều kiện đưa vào vận hành theo thời gian thực…
Trong mô hình tăng trưởng mới của đất nước, thị trường bất động sản cần chuyển mạnh từ tư duy phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ tăng trưởng dựa vào đầu cơ tài sản sang phát triển dựa trên nhu cầu thực; từ phát triển đơn lẻ từng dự án sang kiến tạo hệ sinh thái đô thị đồng bộ, xanh, thông minh và có khả năng chống chịu cao…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.