Luật sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 không chỉ là văn bản pháp lý, mà là cuộc cách mạng thể chế với ba trụ cột: Quỹ tài chính xanh, thị trường dịch vụ năng lượng, và hệ thống quản lý từ trung ương đến địa phương.
Tại Diễn đàn "Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả: Thành quả và mục tiêu trong kỷ nguyên vươn mình" diễn ra ngày 17/10/2025 tại TP. Hồ Chí Minh, Bộ Công Thương đã công bố những thay đổi then chốt trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Với 3 điều, 21 khoản điều chỉnh 19 điều và bổ sung 1 điều mới, đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong hành trình chuyển đổi xanh của Việt Nam.
Nhìn lại 15 năm qua, những con số mà Bộ Công Thương công bố tại Diễn đàn khá ấn tượng. Giai đoạn 2011-2015, cả nước tiết kiệm được 11.261 KTOE (tấn dầu tương đương) năng lượng, tương đương 5,65% tổng tiêu thụ năng lượng. Giai đoạn 2016-2020 duy trì mức tiết kiệm 5,65%, tương đương hàng tỷ kWh điện. Chương trình dán nhãn năng lượng đã loại bỏ 45 triệu bóng đèn sợi đốt, giúp tiết kiệm 100 triệu kWh điện/năm - công suất tương đương một nhà máy nhiệt điện 300 MW.
Đằng sau những con số này là hệ thống thể chế được xây dựng công phu: 2 nghị định, 16 thông tư, 2 quy chuẩn kỹ thuật và hơn 50 bộ tiêu chuẩn. Hơn 9.500 hộ dân lắp đặt điện mặt trời áp mái, 1.200 doanh nghiệp thực hiện kiểm toán năng lượng, trên 5.000 kiểm toán viên và người quản lý năng lượng được cấp chứng chỉ. Các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như xi măng, thép, dệt may, chế biến thực phẩm đều được hỗ trợ cải thiện hiệu suất.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt Net Zero vào năm 2050 và tiêu thụ năng lượng tăng bình quân 8-10%/năm, những thành tựu này chỉ là khởi đầu. Bà Đỗ Thị Minh Trâm, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), thẳng thắn chỉ ra: "Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Việc sửa đổi Luật lần này không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà là động lực mới cho giai đoạn phát triển xanh."
Những hạn chế đó bao gồm: nguồn lực tài chính hạn hẹp cho các dự án tiết kiệm năng lượng, thiếu cơ chế thị trường cho dịch vụ năng lượng, sự chồng chéo trong quản lý nhà nước giữa các cấp, và chưa có công cụ tài chính đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ. Đây chính là lý do Luật sửa đổi ra đời với những đột phá về chính sách.
Điểm đột phá nhất trong Luật sửa đổi là việc thành lập Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả - một quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì lợi nhuận. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một công cụ tài chính chuyên biệt cho lĩnh vực năng lượng tiết kiệm.
Quỹ có chức năng huy động, cho vay, đầu tư, nhận ủy thác để hỗ trợ các dự án tiết kiệm năng lượng. Quan trọng hơn, Quỹ được thiết kế theo hướng xã hội hóa, độc lập tài chính, không làm tăng chi phí cho doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng mà không phải gánh thêm gánh nặng tài chính.
Mô hình này không xa lạ trên thế giới. Nhiều quốc gia như Thái Lan, Malaysia đã thành công với các quỹ tương tự. Tại Thái Lan, Energy Conservation Fund (ENCON Fund) thành lập từ năm 1995 đã tài trợ hàng nghìn dự án tiết kiệm năng lượng với tổng giá trị hàng tỷ baht, giúp giảm 20-30% chi phí năng lượng cho doanh nghiệp.
Lần đầu tiên, Luật quy định rõ khái niệm, điều kiện và mô hình hoạt động của tổ chức dịch vụ năng lượng (ESCO). Đây là những đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn, đầu tư, kiểm toán và thực hiện hợp đồng tiết kiệm năng lượng theo mô hình chia sẻ lợi ích.
Cơ chế này mở ra một thị trường dịch vụ năng lượng tư nhân đầy tiềm năng. Thay vì doanh nghiệp phải bỏ vốn lớn để đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, họ có thể ký hợp đồng với ESCO. ESCO sẽ đầu tư, lắp đặt thiết bị và thu lợi nhuận từ chính khoản tiền tiết kiệm được. Mô hình win-win này đã thành công ở Trung Quốc, Hàn Quốc và nhiều nước châu Âu.
Tại Việt Nam, thị trường ESCO vẫn chưa phát triển do thiếu khung pháp lý rõ ràng. Vì vậy, việc Luật sửa đổi quy định cụ thể về ESCO sẽ tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia, đồng thời bảo vệ quyền lợi của cả nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng.
Luật sửa đổi nâng sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả lên thành chỉ tiêu bắt buộc trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, tỉnh và thành phố. Đây không chỉ là thay đổi về mặt hình thức mà là sự cam kết chính trị ở cấp cao nhất.
Đồng thời, Luật tiếp tục phân quyền, cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục để tránh chồng chéo giữa các cấp quản lý. Các địa phương phải lập kế hoạch và báo cáo định kỳ kết quả thực hiện gửi Bộ Công Thương tổng hợp, trình Chính phủ. Cơ chế này đảm bảo tính thực thi từ trung ương đến cơ sở, đồng thời tạo áp lực trách nhiệm cho chính quyền địa phương.
Ngoài ba trụ cột chính, Luật sửa đổi còn có những điểm mới đáng chú ý khác. Lần đầu tiên, vật liệu xây dựng phải dán nhãn năng lượng - một bước tiến quan trọng khi ngành xây dựng, chiếm đến 30-40% tổng tiêu thụ năng lượng của đất nước. Việc kiểm soát từ khâu thiết kế, sản xuất vật liệu sẽ mang lại hiệu quả tiết kiệm dài hạn.
Chính phủ cũng khuyến khích doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh, tiếp cận tín dụng xanh để chuyển đổi công nghệ. Đây là tín hiệu tích cực cho thị trường vốn xanh đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng xanh đã đạt hơn 500.000 tỷ đồng vào cuối năm 2024, và Luật sửa đổi sẽ là chất xúc tác để con số này tăng mạnh trong những năm tới.
Chỉ rõ bản chất của vấn đề, bà Trâm nhấn mạnh: "Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành điện hay các cơ quan quản lý nhà nước, mà là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, từ mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp đến các tổ chức, cộng đồng."
Thực tế, thách thức không nằm ở việc ban hành Luật mà ở việc thực thi. Bộ Công Thương cho biết sẽ sớm ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành chi tiết, xây dựng cơ chế khuyến khích cụ thể cho doanh nghiệp, đẩy mạnh truyền thông qua các cuộc thi và diễn đàn, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, và giám sát chặt chẽ việc thực hiện tại địa phương.
Con đường đến Net Zero 2050 còn 25 năm, nhưng với Luật sửa đổi này, Việt Nam đã có trong tay bộ công cụ thể chế và tài chính đủ mạnh để biến cam kết thành hiện thực. Câu hỏi không còn là "liệu có thể", mà là "liệu có đủ nhanh" để bắt kịp với tốc độ biến đổi khí hậu và áp lực chuyển đổi xanh toàn cầu.
Đối thoại Quy Nhơn về khí hậu và chuyển đổi lần đầu tiên sẽ diễn ra tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), tỉnh Gia Lai trong 2 ngày 10-11/10/2026. Sự kiện hướng tới kết nối khoa học, chính sách, tài chính và thực tiễn để thúc đẩy các sáng kiến, hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi theo hướng phát thải carbon thấp...
Trong bối cảnh du khách ngày càng tìm kiếm những kỳ nghỉ đa trải nghiệm, mô hình nghỉ dưỡng all-inclusive đang trở thành xu hướng phát triển mới tại Việt Nam...
Trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng trở thành vấn đề cấp bách, Đà Nẵng đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc xử lý nghiêm các hành vi xả thải và đổ rác thải không đúng quy định. Đây là một phần trong nỗ lực xây dựng mạng lưới tuần hoàn rác thải, hướng tới một tương lai bền vững cho thành phố...
Việc vận hành trong mùa lũ phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các công trình thủy điện, đảm bảo an toàn chống lũ cho hạ du và đảm bảo hiệu quả phát điện. Còn trong mùa cạn, phải đảm bảo an ninh nguồn nước cấp cho sinh hoạt, các hoạt động sản xuất thiết yếu của nhân dân ở hạ du; đảm bảo hiệu quả phát điện...
Các cơ sở cần cẩn trọng trong tính toán lượng phát thải khí nhà kính bởi nếu báo cáo kiểm kê phát thải thấp hơn thực tế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt, còn nếu tính toán sai khiến con số tăng quá cao, doanh nghiệp sẽ phải gánh thêm chi phí mua hạn ngạch và mất ưu thế cạnh tranh trên thị trường...
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Chỉ với vài thao tác đơn giản ngay trên ứng dụng ngân hàng quen thuộc, du khách quốc tế đã có thể dễ dàng thanh toán cho các giao dịch mua sắm tại Việt Nam. Giải pháp thanh toán quốc tế VietQR Global hiện đang được triển khai rộng rãi tại nhiều trung tâm du lịch và khu mua sắm lớn trên cả nước.