Chia sẻ trong buổi lễ tổng kết của ngành dệt may Việt Nam, TS Cấn Văn Lực cho rằng tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2024 dự báo tăng khoảng 2,4-2,9% (giảm nhẹ từ mức khoảng 3% năm 2023); lạm phát toàn cầu tiếp tục giảm; rủi ro tài chính, tiền tệ và nợ trên thế giới còn cao; rủi ro an ninh năng lượng, an ninh lương thực, rủi ro chuỗi cung ứng còn hiện hữu… Những yếu tố này đều có tác động tiêu cực đến Việt Nam.
Tuy nhiên, theo TS Lực, với đà phục hồi thời gian qua và nỗ lực, quyết tâm cao hơn, khả năng Việt Nam có thể tăng trưởng 6-6,5% và lạm phát tăng 3,5-4% năm 2024 là khả thi dù mức tăng trưởng khu vực châu Á Thái Bình Dương dự báo ở mức thấp hơn (4,5%) do Trung Quốc tăng trưởng chậm lại.
Lý do là bởi Việt Nam có nhiều động lực tăng trưởng cho năm 2024. Đó là việc Trung Quốc mở cửa trở lại từ 8/1/2023 tạo điều kiện khá thuận lợi cho Việt Nam do nước này là đối tác thương mại lớn nhất chiếm khoảng 25% kim ngạch cả xuất và nhập. Đặc biệt, chuỗi cung ứng không bị đứt gãy. Năm qua, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu duy nhất mà Việt Nam có tăng trưởng dương ( 6%).
"Dữ liệu cho thấy, chúng ta có dấu hiệu phục hồi bắt đầu từ tháng 6/2023 đến nay ở các lĩnh vực và ngành nghề, tất nhiên không đồng đều nhưng về cơ bản đã và đang phục hồi tích cực", TS Lực nhấn mạnh.
Đáng lưu ý, đầu tư công năm 2023 được đẩy mạnh chưa từng có. Đầu tư nước ngoài (FDI) của cả thế giới năm 2023 dự báo giảm 1-2% nhưng Việt Nam thu hút FDI mới tăng gần 15%, giải ngân tăng 3%...
Điểm sáng nữa là hội nhập quốc tế năm qua rất mạnh mẽ. Lạm phát và lãi suất đang giảm, tỷ giá cơ bản ổn định, rủi ro nợ xấu trong tầm kiểm soát; thị trường chứng khoán và bất động sản có dấu hiệu phục hồi.
Động lực lớn nữa đó là một loạt các luật quan trọng đã và đang được thông qua nhất là Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản… đây là những nền tảng pháp lý vô cùng quan trọng, là động lực phát triển tốt hơn trong thời gian tới. Dịch vụ, tiêu dùng tăng khá khả quan, dù có chậm hơn.
Tuy nhiên, TS. Cấn Văn Lực cũng chỉ ra 5 thách thức chính với Việt Nam trong năm 2024.
Thứ nhất: Kinh tế thế giới không suy thoái nhưng tăng trưởng chậm lại, chậm hơn năm 2023. Điều này tác động khá lớn tới thị trường xuất khẩu và đầu tư bị thu hẹp, tăng chậm lại; du lịch quốc tế phục hồi chậm; tăng trưởng đầu tư tư nhân thấp.
Thứ hai: Mặt bằng lãi suất giảm nhưng còn cao; rủi ro thị trường tài chính – tiền tệ quốc tế tăng, tác động tiêu cực đến Việt Nam. Giải ngân Chương trình phục hồi 2022-2023 và đầu tư công chưa có đột phá.
Thứ ba: Doanh nghiệp còn nhiều khó khăn (pháp lý, nguồn vốn, nhân sự, đơn hàng...); thu ngân sách nhà nước giảm, khiến dư địa chính sách tài khóa bị thu hẹp.
Thứ tư: Rủi ro thị trường trái phiếu doanh nghiệp và bất động sản cần thời gian xử lý, lành mạnh hóa.
Thứ năm: Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và tổ chức tín dụng gặp nhiều thách thức; nợ xấu gia tăng.
Trước các thách thức trên, theo TS Lực, tất cả các chính sách được áp dụng như thời điểm Covid giờ cũng được áp dụng và sẽ tiếp tục được duy trì thực hiện trong thời gian tới theo hướng chính sách tài khóa “mở rộng, trọng tâm” (giãn hoãn, giảm thuế, phí, lệ phí trước bạ...) và chính sách tiền tệ “linh hoạt, nới lỏng” nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị tác động nhiều bởi suy giảm kinh doanh, việc làm, thu nhập... Áp thuế tối thiểu toàn cầu kèm theo chính sách hỗ trợ...
Đồng thời ban hành nhiều chính sách để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho lĩnh vực y tế, thị trường đất đai, bất động sản, xây dựng, thị trường vốn, du lịch, đầu tư công...
Gặp gỡ các nhà đầu tư nước ngoài, hiệp hội doanh nghiệp để lắng nghe, cùng tìm giải pháp tháo gỡ rào cản....; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh.
Tăng cường hoàn thiện và thực thi thể chế, trong đó sớm ban hành và hướng dẫn thực hiện các luật quan trọng như Luật Nhà ở 2023, Luật Kinh doanh bất động sản 2023, Luật Đất đai sửa đổi, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi,... góp phần tạo điều kiện cho các thị trường đất đai, bất động sản, tài chính-ngân hàng phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững và bao trùm.
Đặc biệt, chú trọng hoàn thiện thể chế, khung pháp lý cho phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, thị trường tín chỉ carbon, năng lượng hydrogen...
Hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng...
Đối với doanh nghiệp, để ứng phó với các thách thức này, TS Lực cho rằng doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động; kiểm soát rủi ro dòng tiền, rủi ro lãi suất, tỷ giá... Chủ động tìm hiểu, tiếp cận các chương trình, gói hỗ trợ (nhất là các gói hỗ trợ tài khóa, thuế - phí, tín dụng...). Đa dạng hóa nguồn vốn, thị trường, đối tác, nguồn cung.
Mặt khác, cần chủ động áp dụng sản xuất xanh, tiêu dùng xanh và kinh doanh tuần hoàn. Thực thi chiến lược chuyển đổi số (gắn với bài toán đầu tư công nghệ, nhân sự số, dữ liệu và kiểm soát rủi ro...). Thích ứng, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, quản lý rủi ro (nhất là rủi ro pháp lý, tài chính, công nghệ, dữ liệu...).
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể đạt được bằng cách dàn hàng ngang các nguồn lực, mà phải bằng những chính sách vi mô thực sự đột phá. Giải phóng năng lực công nghệ AI, nâng tầm thể chế thử nghiệm đặc khu kinh tế, tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn tín dụng và thiết lập hệ thống thuế số minh bạch chính là những bệ phóng vững chắc nhất để đưa nền kinh tế Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên mới…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát triển công nghiệp hàng hải theo tư duy hệ sinh thái, có trọng tâm, nâng cao năng lực tự chủ; không bao cấp trở lại, không đầu tư dàn trải và không để mất năng lực chiến lược.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Phú Thọ duy trì tăng trưởng trên 11%, giải ngân vốn đầu tư công, phát triển công nghiệp công nghệ cao và xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng trong năm.
Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu Lào Cai đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế biên mậu, logistics, đẩy nhanh đầu tư công, tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tạo đột phá về chuyển đổi số.
Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Bức tranh tổng thể kinh tế năm 2026 cho thấy xu hướng chuyển dịch rõ rệt giữa khu vực Doanh nghiệp và Kinh tế cá thể. Ở khu vực Doanh nghiệp tăng trưởng nhanh về số lượng, thu hút và phát triển lực lượng lao động lớn thì ở khu vực Kinh tế cá thể tốc độ tăng quy mô lại có xu hướng chậm lại, tỷ trọng lao động có sự dịch chuyển.