Cụ thể, tại Khoản 1, Điều 20 Nghị định 08/2015/NĐ-CP trước đây quy định đối với hàng hoá xuất khẩu, trị giá hải quan là giá bán tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải quốc tế.
Trong đó, giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất là giá ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc các hình thức có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng, hóa đơn thương mại và các chứng từ có liên quan của lô hàng phù hợp với hàng hóa thực xuất, Nghị định 08/2015/NĐ-CP nêu rõ.
Tuy nhiên, tại Khoản 8, Điều 1 Nghị định 167/2025/NĐ-CP sửa đổi và bổ sung Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định trị giá hàng xuất khẩu phải được xác định trên cơ sở trị giá thực tế của hàng hóa tại cửa khẩu xuất theo trình tự 4 phương pháp như sau:
Thứ nhất, giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất bao gồm giá bán ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn thương mại cộng với các chi phí liên quan đến hàng hóa xuất khẩu nếu chưa được tính vào giá.
Thứ hai, giá bán của hàng hóa xuất khẩu giống hệt, tương tự trên cơ sở dữ liệu trị giá hải quan sau khi quy đổi về giá bán tính đến cửa khẩu xuất tại thời điểm gần nhất so với ngày đăng ký tờ khai xuất khẩu của lô hàng đang xác định trị giá.
Thứ ba, giá bán của hàng hóa xuất khẩu giống hệt, tương tự tại thị trường Việt Nam, sau khi quy đổi về giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất tại thời điểm gần nhất so với ngày đăng ký tờ khai xuất khẩu của lô hàng đang xác định trị giá.
Thứ tư, giá bán của hàng hóa xuất khẩu do cơ quan Hải quan thu thập, tổng hợp, phân loại theo quy định tại Khoản 1, Điều 22 Nghị định 08/2015/NĐ-CP sau khi quy đổi về giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất.
Trị giá hàng xuất khẩu được xác định trên cơ sở trị giá thực tế của hàng hóa tại cửa khẩu xuất theo trình tự 4 phương pháp: (i) giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất; (ii) giá bán của hàng hóa xuất khẩu giống hệt hoặc tương tự trên cơ sở dữ liệu trị giá hải quan; (iii) giá bán của hàng hóa xuất khẩu giống hệt hoặc tương tự tại thị trường Việt Nam và (iv) giá bán của hàng hóa xuất khẩu do cơ quan Hải quan thu thập
Bên cạnh đó, cũng tại Khoản 8, Điều 1 Nghị định 167/2025/NĐ-CP (sau khi sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Điều 20 Nghị định 08/2015/NĐ-CP), bổ sung thêm quy định về cách xác định cửa khẩu xuất:
(i) Đối với phương thức vận tải đường biển, đường hàng không, cửa khẩu xuất là cảng xếp hàng, nơi hàng hóa xuất khẩu được xếp lên phương tiện vận tải tại cảng ghi trên tờ khai hải quan.
(ii) Đối với phương thức vận tải đường sắt, cửa khẩu xuất là nơi hàng hóa xuất khẩu được xếp lên phương tiện vận tải tại cửa khẩu đường sắt liên vận quốc tế ghi trên tờ khai hải quan.
(iii) Đối với phương thức vận tải đường bộ, đường thủy nội địa, cửa khẩu xuất là cửa khẩu biên giới nơi xuất khẩu hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam ghi trên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc các chứng từ khác có liên quan.
(iv) Trường hợp hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào nội địa Việt Nam, cửa khẩu nhập đầu tiên là địa điểm ngăn cách giữa khu phi thuế quan và khu vực khác trong nội địa Việt Nam.
Ngược lại, đối với hàng hóa nhập khẩu, Khoản 2, Điều 20 Nghị định 08/2015/NĐ-CP quy định trị giá hải quan của hàng nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên trên cơ sở áp dụng Hiệp định chung về thuế quan và thương mại hoặc theo các cam kết quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết.
Trong đó, cửa khẩu nhập đầu tiên được xác định như sau:
Thứ nhất, với phương thức vận tải đường biển, đường hàng không, cửa khẩu nhập đầu tiên là cảng dỡ hàng hóa nhập khẩu ghi trên vận đơn.
Thứ hai, với phương thức vận tải đường sắt, cửa khẩu nhập đầu tiên là ga đường sắt liên vận quốc tế ghi trên tờ khai hải quan.
Thứ ba, với phương thức vận tải đường bộ, đường thủy nội địa, cửa khẩu nhập đầu tiên là cửa khẩu biên giới nơi hàng hóa nhập khẩu đi vào lãnh thổ Việt Nam ghi trên tờ khai hải quan.
Thứ tư, trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuế quan vào nội địa Việt Nam, cửa khẩu nhập đầu tiên là địa điểm ngăn cách giữa khu phi thuế quan và khu vực khác trong nội địa Việt Nam, Nghị định 08/2015/NĐ-CP
Tuy nhiên, sau khi sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Điều 20 Nghị định 08/2015/NĐ-CP, Khoản 8, Điều 2 Nghị định 167/2025/NĐ-CP đã lược bỏ quy định áp dụng Hiệp định chung về thuế quan và thương mại hoặc theo các cam kết quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết.
Thay vào đó, Nghị định này quy định trị giá hải quan của hàng nhập khẩu phải được xác định theo tuần tự 6 phương pháp bao gồm: (i) phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu; (ii) phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt; (iii) phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự; (iv) phương pháp trị giá khấu trừ; (v) phương pháp trị giá tính toán và (vi) phương pháp suy luận.
Nghị định 167/2025/NĐ-CP cũng nêu rõ, trong trường hợp người khai hải quan đề nghị bằng văn bản thì trình tự áp dụng phương pháp trị giá khấu trừ và phương pháp trị giá tính toán có thể hoán đổi cho nhau.
Những thay đổi trong cách xác định trị giá hải quan theo Nghị định 167/2025/NĐ-CP nhìn chung mang lại lợi ích cho cả hai phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Về phía doanh nghiệp xuất nhập khẩu, quy định mới giúp quá trình khai báo minh bạch và thống nhất hơn. Nếu trước đây trị giá hàng hóa chủ yếu dựa vào hợp đồng hoặc hóa đơn, dễ phát sinh tình huống chi phí chưa được phản ánh đầy đủ, thì việc áp dụng phương pháp xác định trị giá xuất nhập khẩu hiện nay giúp quá trình kê khai có căn cứ rõ ràng hơn.
Nhờ đó, rủi ro bị cơ quan hải quan ấn định thuế giảm đáng kể; đồng thời, doanh nghiệp cũng thuận lợi hơn trong việc dự báo chi phí, tham chiếu chuẩn mực quốc tế và hội nhập sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ở góc độ quản lý, cơ quan hải quan có thêm công cụ kiểm soát chống gian lận bởi giá hợp đồng không còn là căn cứ duy nhất mà sẽ được đối chiếu với dữ liệu thị trường, hàng hóa tương tự hoặc thông tin do hải quan thu thập.
Việc áp dụng tuần tự các phương pháp xác định trị giá vừa giúp bảo đảm nguồn thu ngân sách, vừa thống nhất quy trình quản lý trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, khi trị giá hải quan được quản lý dựa trên cơ sở dữ liệu tập trung, ngành hải quan có điều kiện tăng cường phân tích rủi ro, cảnh báo sớm và xử lý kịp thời những trường hợp bất thường.
Từ ngày 1/7, các ngân hàng và tổ chức tín dụng sẽ phải cung cấp định kỳ nhiều loại thông tin tài khoản và giao dịch của người nộp thuế cho cơ quan thuế theo quy định mới. Phạm vi dữ liệu được mở rộng so với trước, bao gồm cả thông tin về số dư, dòng tiền và các giao dịch liên quan…
Vừa qua, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) và UBND tỉnh Khánh Hòa ký kết Bản ghi nhớ hợp tác, mở ra khuôn khổ hợp tác lâu dài nhằm huy động nguồn lực tài chính, thúc đẩy đầu tư, chuyển đổi số và phát triển các lĩnh vực kinh tế trọng điểm của tỉnh trong giai đoạn mới.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…
Dữ liệu dòng tiền đang trở thành cơ sở quan trọng để ngân hàng hiểu và cấp vốn cho SME. Với ACB, khi doanh nghiệp minh bạch hơn trong giao dịch và vận hành, hạn mức vốn có thể không chỉ dừng ở vài tỷ đồng…
Sáng nay (6/7), xu hướng phục hồi đưa giá vàng tiệm cận mốc chủ chốt 4.200 USD/oz, nhưng giới phân tích còn thiếu nhất quán khi đánh giá về triển vọng giá kim loại quý này trong thời gian tới...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho thấy, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI sáu tháng đạt 13,03 tỷ USD, đạt mức cao nhất sáu tháng đầu năm của các năm từ 2022 đến nay. Có ba yếu tố tích cực khiến nguồn vốn FDI tăng mạnh…