
Dù 96,5% số doanh nghiệp đã được cổ phần hoá, nhưng chỉ có 8% số vốn Nhà nước được chuyển giao cho khu vực tư nhân.
Con số này đã được TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhấn mạnh tại hội thảo cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước từ góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức ngày 8/9.
Xung quanh con số nói trên, Viện trưởng Thiên đã có nhiều phân tích đáng chú ý.
Trong giai đoạn 2011-2015, cả nước đã cổ phần hoá 508 doanh nghiệp. Một thành tích xét về mặt số lượng - theo ông Thiên - là không đến nỗi tồi, ít nhất cũng là so với mục tiêu kế hoạch phải cổ phần hóa được hơn 530 doanh nghiệp.
Với con số này, dường như công cuộc cổ phần hoá của Việt Nam đã đạt được những kết quả mong đợi: 96,5% số doanh nghiệp Nhà nước đã được cổ phần hoá.
Tuy nhiên, thành tích đó không phản ánh đầy đủ và chân thực bức tranh cổ phần hoá nhìn từ góc độ tái cơ cấu nền kinh tế với mục tiêu chính là “chuyển nguồn lực quốc gia từ khu vực sử dụng kém hiệu quả (khu vực doanh nghiệp nhà nước) sang khu vực sử dụng hiệu quả (khu vực tư nhân)”. Thậm chí, đó còn là một bức tranh bị che giấu - ông Thiên bình luận.
Nhấn mạnh từ vị Viện trưởng là "gần 100% đã được cổ phần hoá theo đúng tiến độ, nhưng chỉ 8% số vốn nhà nước trong các doanh nghiệp đó được cổ phần hoá. Nghĩa là nhìn từ mục tiêu tái cơ cấu, kết quả đạt được có thể coi là bằng không - nguồn lực hầu như vẫn nguyên sở hữu nhà nước và các chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải đứng ngoài cơ cấu quản lý doanh nghiệp cổ phần hoá.".
Nhiệm vụ cổ phần hoá được coi là hoàn thành, thành tích rất cao nhưng mục đích thật sự lại không đạt được. Đó là “nghịch lý” của cơ chế hoạt động được dẫn dắt bởi động cơ “chủ nghĩa thành tích”, vẫn đang tồn tại phổ biến và chi phối hoạt động của hầu như tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế - ông Thiên nhìn nhận.
Viện trưởng Thiên cũng phân tích: doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và cổ phần chi phối vẫn còn ở nhiều ngành, lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối, làm hạn chế tác dụng của cổ phần hoá đối với đổi mới quản trị và thu hút vốn đầu tư phát triển từ bên ngoài.
Những logic trên đều đi ngược lại nguyên lý, nguyên tắc kinh tế thị trường.
Và, đây chính là “nghịch lý” bao trùm, là bản chất kinh tế chính trị cốt lõi giải thích thực trạng “có vấn đề”, tình trạng “thành tích thật – mà – không thật” của quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước giai đoạn vừa qua - Viện trưởng Thiên nhấn mạnh quan điểm.
Ở góc độ chất lượng thì kết quả cổ phần hoá còn hạn chế, nhất là trong thu hút nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư chiến lược là nhận xét của ông Phạm Đức Trung – Trưởng Ban cải cách và phát triển doanh nghiệp (Viện Quản lý kinh tế Trung ương - CIEM)
Ông Trung phân tích: “nghị quyết của Quốc hội quy định phải giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước xuống mức sàn, nhưng thực tế lại không như vậy. Đơn cử, có doanh nghiệp kế hoạch Nhà nước chỉ giữ 65%, nhưng sau khi IPO vẫn giữ 81%, hay kế hoạch bán cho đầu tư chiến lược 17% nhưng thực tế chỉ bán được 10%... Nguyên nhân có thể do giá, thị trường khó khăn, song trên hết là trách nhiệm của cơ quan đại diện vốn sở hữu trong kế hoạch cổ phần hoá cao, do đặt kế hoạch cao nhưng tới khi đạt được thấp”.
Theo CIEM, số vốn thoái được mới chỉ ở mức 30% so với thực tế cần thoái hơn 100.000 tỷ đồng.
Từ góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài, ông Tony Foster – Giám đốc điều hành Công ty luật Freshfields (Anh) cho rằng, để thu hút được các nhà đầu tư nghiêm túc và dài hạn, cần phải tạo điều kiện cho họ được mua cổ phần chi phối trong các doanh nghiệp cổ phần hoá hay thoái vốn Nhà nước. Điều này sẽ mang đến những chào giá tốt hơn từ nhà đầu tư và tạo thêm doanh thu cho Chính phủ, vì Nhà nước sẽ bán được giá cao hơn nếu cho phép bán cổ phần chi phối.
Kiến nghị từ nhà đầu tư ngoại này là “Chính phủ cần xem xét sửa đổi các quy định pháp luật để cho phép nhà đầu tư ngoại nắm giữ trên 49% cổ phần trong các doanh nghiệp cổ phần hoá hay thoái vốn Nhà nước”.
Theo ông Tony Foster, giá bán, tỷ lệ chào bán nhỏ, quy trình chào bán chưa rõ ràng, minh bạch... là những thách thức cản đường cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam.
Vẫn liên quan đến thoái vốn, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Bia, rượu, nước giải khát Hà Nội (Habeco) Vương Toàn, hiện Habeco đang gặp vướng mắc trong đàm phán với đối tác ngoại - bia Carlsberg (Đan Mạch).
Vị này cho biết: dù đã qua 9 phiên đàm phán, nhưng vẫn chưa thống nhất được. Hợp đồng thỏa thuận mua bán cổ phần với cổ đông chiến lược và hợp tác chiến lược giữa Habeco và Carlsberg so với các quy định hiện tại có vướng mắc. Chính phủ muốn thoái vốn sâu tại Habeco, nên Carlsberg muốn nắm 51% cổ phần.
"Nhưng chúng tôi còn kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác như rượu, lương thực.. mà các lĩnh vực này thì quy định cho nhà đầu tư ngoại chỉ ở mức 49% là tối đa, nên việc đàm phán chưa đạt được kết quả” – ông Toàn cho biết.
Để cổ phần hoá, thoái vốn Nhà nước thành công cần tôn trọng nguyên tắc “phải bán cái gì thị trường cần, thay vì bán những gì mình có” - ông Nguyễn Hồng Hiển, Phó tổng giám đốc Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) bày tỏ quan điểm.
Theo vị này, thay vì thoái vốn từng doanh nghiệp đơn lẻ, thì nên tạo ra rổ thoái vốn theo địa bàn, chuỗi giá trị để nhà đầu tư có thêm lựa chọn.
Khuyến nghị từ vị lãnh đạo của SCIC là có nhiều cách bán, nhưng vai trò của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài là quan trọng. Cơ chế hiện nay là bán đấu giá trước, rồi dùng giá này áp cho nhà đầu tư chiến lược. Cách làm này sẽ kém hấp dẫn với nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Việc đấu giá công khai là tốt, nhưng với doanh nghiệp không có nhiều tiềm năng thì việc đấu giá khó thành công, nên cần cơ chế bán khác linh hoạt hơn.
Tại buổi họp báo chiều ngày 27/10, lãnh đạo Bộ Y tế đã thông tin về dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi), trong đó nhấn mạnh đến quy định cấm hành vi lấy bộ phận cơ thể của người dưới 18 tuổi khi còn sống...
Thông qua đối thoại và chia sẻ kinh nghiệm, các cơ quan kiểm toán tối cao (SAI) có thêm cơ sở để đổi mới, nâng cao năng lực và phối hợp hiệu quả hơn, cùng hướng tới đích đến cuối cùng là quản trị công minh bạch, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và phát triển bền vững…
Việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược và thông qua Kế hoạch hành động giai đoạn 2026–2030 mở ra giai đoạn hợp tác mới giữa Việt Nam và Ba Lan, với trọng tâm là hiện thực hóa các cam kết, thúc đẩy dự án thiết thực, mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp hai nước.
Thảo luận về hai dự án luật liên quan đến an ninh, an toàn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cải cách thủ tục hành chính phải gắn với nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu nâng cao năng lực dự báo chiến lược, hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế; chuyển hóa các cam kết, thỏa thuận quốc tế thành những dự án, sản phẩm và thị trường cụ thể, phục vụ thiết thực sự phát triển đất nước và đời sống nhân dân...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Với thông điệp “Cà phê Hòa bình - Make coffee not war”, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” kết nối những giá trị lịch sử, văn hóa và nông nghiệp. Đây cũng là dịp để Quảng Trị phát huy tiềm năng du lịch nông nghiệp, đưa câu chuyện cà phê trở thành điểm nhấn trong hành trình khám phá miền Tây của tỉnh.