Nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện: Hướng phát triển kinh tế bền vững của bà con miền núi
NNguyễn Thuấn
Chọn cỡ chữ
Giữa bạt ngàn núi rừng, những lồng cá trên mặt hồ thủy điện đang trở thành điểm nhấn trong bức tranh kinh tế của vùng cao Thanh Hóa. Từ vài hộ thử nghiệm ban đầu, nay hàng trăm gia đình đã có thu nhập khá, từng bước khẳng định nghề nuôi cá lồng là hướng phát triển bền vững...
Lòng hồ thủy điện Trung Xuân được người dân tận dụng mặt nước lòng hồ để nuôi các loại cá nước ngọt.
Sáng sớm, con đường dẫn vào xã
Trung Hạ còn phủ mờ sương núi. Khi mặt trời vừa ló rạng, hồ thủy điện Trung
Xuân hiện ra trước mắt tôi như một tấm gương khổng lồ xanh biếc, lặng lẽ nằm giữa
đại ngàn. Trên mặt hồ tĩnh lặng, những dãy lồng cá nối tiếp nhau, neo chắc chắn
bằng những sợi dây lớn, xung quanh là những chiếc thuyền nhỏ khua sóng. Bức tranh bình yên ấy không chỉ là cảnh sắc
thiên nhiên, mà còn phản ánh sự đổi thay trong sinh kế của người dân miền núi.
TỪ Ý TƯỞNG NHỎ THÀNH NGUỒN THU LỚN
Bên những lồng cá được
chăng chắn kỹ lưỡng, ông Lò Văn Minh với làn da rám nắng, gương
mặt hằn rõ dấu vết của nắng gió hồ hởi kể lại hành trình khởi nghiệp.
“Trước đây, gia đình tôi trông chờ
vào vài sào ruộng, nương rẫy. Năm nào mưa thuận gió hòa thì tạm đủ ăn, nhưng
cũng có khi mất mùa, cái đói rình rập. Khi hồ thủy điện tích nước, tôi cứ nghĩ
nguồn lợi lớn thế này mà bỏ không thì phí. Tôi bàn với gia đình, mạnh dạn vay vốn
làm thử mấy lồng nuôi cá".
"Ban đầu, tôi cũng cảm thấy lo lắng vì nghề này còn mới mẻ và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tuy nhiên, tôi đã quyết tâm tìm hiểu và nâng cao kiến thức của mình bằng cách tham gia các lớp tập huấn, đọc sách báo và tìm kiếm thông tin trên internet. Sau đó, tôi bắt đầu thử nghiệm nuôi cá trắm và rô phi. Đặc biệt, tôi đã mạnh dạn đưa cá lăng vào mô hình nuôi, một loại cá không chỉ lớn nhanh mà còn ít bị dịch bệnh và có giá trị kinh tế cao. Chỉ sau một năm, tình hình kinh tế gia đình tôi đã có sự chuyển biến rõ rệt," ông Minh chia sẻ.
Xã Trung Hạ đã có gần 80 hộ nuôi cá với khoảng 90 lồng.
Những lồng cá của ông Minh giờ
đây có cả trắm cỏ, trắm đen, rô phi đơn tính, cá nheo và cá lăng. Mỗi loài được
nuôi xen kẽ, tận dụng nguồn thức ăn có sẵn từ cỏ, lá chuối quanh bản. Nhờ vậy,
chi phí giảm, cá phát triển tốt. Ông Minh bảo: “Nghề nuôi cá lồng không chỉ
mang lại cái ăn cái mặc, mà còn giúp bà con dần thay đổi cách nghĩ, dám thử sức
với cái mới.”
Điều đáng mừng là từ một vài hộ
tiên phong, đến nay xã Trung Hạ đã có gần 80 hộ nuôi cá với khoảng 90 lồng, sản
lượng mỗi năm đạt khoảng 15 tấn, doanh thu gần 1,5 tỷ đồng.
Ông Trần Văn Bồi, Phó Chủ tịch
UBND xã Trung Hạ, cho biết “Nghề nuôi cá lồng bắt đầu
từ năm 2019, ban đầu người dân còn e dè. Nhưng khi thấy hiệu quả rõ rệt, nhiều
hộ đã mạnh dạn làm theo. Chúng tôi thành lập Tổ hợp tác nuôi cá lồng để hướng dẫn
kỹ thuật, hỗ trợ tiêu thụ. Đặc biệt, nguồn vốn tín chấp từ Ngân hàng Chính sách
xã hội giúp bà con có vốn mở rộng sản xuất. Quan trọng hơn cả, nghề này đã tạo
việc làm tại chỗ, góp phần giảm nghèo.”
Những năm gần đây, nghề nuôi cá lồng ở xã Trung Sơn đang phát triển mạnh nhờ khai thác tiềm năng, lợi thế của lòng hồ thuỷ điện, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Tuy vậy, thực tế vẫn không ít
gian nan. Mực nước hồ thủy điện thay đổi thất thường do lịch vận hành không cố
định, có khi lồng cá mắc cạn khiến cá chết hàng loạt. Vào mùa mưa bão, dòng nước
xiết đã từng cuốn trôi lồng bè của nhiều hộ. Chính quyền xã đang tính phương án
phối hợp với Nhà máy Thủy điện Trung Xuân để thông báo lịch vận hành, giúp người
dân chủ động hơn.
Rời Trung Hạ, tôi theo con đường
quanh co men theo sườn núi đến xã Trung Sơn. Hồ thủy điện Trung Sơn hiện ra
mênh mông với hàng chục bè cá neo dọc bờ. Trên bè, từng nhóm người đang rải thức
ăn cho đàn cá bơi lượn.
Ông Nguyễn Biên Cương, Giám đốc
HTX nuôi trồng thủy sản Cựu chiến binh Trung Sơn, tiếp tôi ngay trên chiếc bè
nuôi của gia đình. Ông Cương chia sẻ: “Ngày trước chúng tôi chỉ biết đánh bắt tự nhiên, thậm chí có lúc
tận diệt bằng lưới, bằng kích điện, cá trong hồ ngày càng cạn kiệt. Giờ thì
khác, bà con đã quen với việc nuôi cá lồng. Riêng tôi từ chỗ có 2 lồng, nay đã
lên 9 lồng, nuôi đủ loại trắm, chép, lăng đen, lăng hoa. Mỗi năm thu được 5–6 tấn
cá, mang lại khoảng 180 triệu đồng. Thấy tôi làm được, nhiều hộ trong bản cũng
theo, đến nay cả hồ đã có gần 50 hộ với hơn 110 lồng.”
Khẳng định việc nuôi cá lồng đã biến mặt nước hồ thủy điện thành nguồn
sinh kế bền vững cho địa phương, bà Hà Thị Nga, Bí thư Đảng ủy xã Trung Sơn thông tin "thời gian tới, xã sẽ khuyến khích bà con mở rộng quy mô, xây
dựng thương hiệu cá đặc sản địa phương, vừa nâng giá trị sản phẩm, vừa mở đường
tiêu thụ ra thị trường.”
HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Xã Bá Thước,
nơi ven hồ thủy điện Bá Thước 1 và 2, phong trào nuôi cá lồng cũng đang phát triển sôi động. Tại thôn Chiềng Ai, ông Trương Văn Tấn cho hay "trong những ngày đầu chỉ nuôi vài lồng,
nhưng giống cá không rõ nguồn gốc, chậm lớn, hiệu quả thấp. Từ khi tham gia Tổ
hội nông dân nghề nghiệp, được hướng dẫn kỹ thuật chọn giống, mật độ thả cá,
cách vệ sinh lồng, phòng bệnh, đàn cá khỏe mạnh hẳn. Giờ mỗi năm gia đình tôi
thu gần 6 tạ cá, thu nhập khoảng 50–70 triệu đồng.”
Ông Tấn đang chế biến thức ăn cho cá.
Không chỉ riêng ông Tấn, cả thôn
nay đã có 48 hội viên Hội Nông dân tham gia nuôi hơn 100 lồng cá. Sản lượng
trung bình mỗi năm đạt 12,5 tấn, giá bán 90.000 đồng/kg, mang lại hơn 1,1 tỷ đồng.
Người dân tận dụng phế phẩm nông nghiệp như lá sắn, cỏ, chuối làm thức ăn, vừa
tiết kiệm chi phí vừa giữ môi trường sạch.
Qua thực tế phát triển nuôi cá lồng của các hộ dân đã phản ánh rõ sự chuyển mình nơi miền núi. Từ cuộc sống phụ thuộc vào nương rẫy, nay nhiều
hộ đã có nguồn thu nhập ổn định, vươn lên thoát nghèo nhờ nuôi cá lồng. Từng bản
làng ven hồ giờ đây không chỉ có tiếng gà gáy, tiếng cối giã gạo, mà còn rộn rã
tiếng quẫy nước của đàn cá, tiếng cười nói của bà con bên những bè cá đang ngày
một đầy đặn.
Phần lớn các lồng nuôi các loại cá trắm cỏ, trắm đen, rô phi đơn tính, cá nheo và cả cá lăng
Mặc dù vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như thiên tai và sự biến động của mực nước, nhưng người dân nơi đây có niềm tin vào tiềm năng phát triển nuôi cá lòng và cơ hội phát triển bền vững. Chính quyền địa phương đã xác định một hướng đi bền vững: tổ chức thêm các lớp tập huấn để nâng cao kỹ năng, khuyến khích mở rộng quy mô sản xuất, hỗ trợ tín dụng cho người dân, và thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nhà máy thủy điện nhằm đảm bảo an toàn cho các lồng bè.
Từ mặt nước xanh biếc giữa đại
ngàn, một nghề mới đã ra đời, gắn bó với cuộc sống của bà con. Nuôi cá lồng
trên lòng hồ thủy điện không chỉ mang lại thu nhập, mà còn mở ra hy vọng về một
hướng phát triển bền vững cho vùng núi, nơi người dân đã và đang nỗ lực viết tiếp
câu chuyện làm giàu từ chính quê hương mình.
Nhằm phát triển nghề nuôi cá lồng thành ngành kinh tế mũi nhọn, ngày 28/12/2022, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 4716/QĐ-UBND, phê duyệt Đề án phát triển nuôi cá lồng giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, đến năm 2025, toàn tỉnh phấn đấu đạt 200ha diện tích nuôi với 3.700 lồng, sản lượng 6.650 tấn cá, tạo việc làm cho hơn 5.800 lao động. Đến năm 2030, diện tích nuôi dự kiến tăng lên hơn 310ha, với quy mô sản xuất hàng hóa ngày càng chuyên nghiệp, bền vững.
Từ những khó khăn ban đầu trong chăn nuôi, anh Lô Văn Danh, dân tộc Thái, ở bản Tạt, xã Yên Hòa, tỉnh Nghệ An, đã từng bước tìm hướng phát triển kinh tế gia đình bằng cách học hỏi kỹ thuật, cải tạo chuồng trại và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Mô hình chăn nuôi tổng hợp mang lại lợi nhuận hơn 130 triệu đồng mỗi năm, trở thành kinh nghiệm để nhiều người dân địa phương tham khảo, học tập…
Việt Nam đang giữ vị thế hàng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta, nhưng lợi thế về sản lượng chưa chuyển hóa tương xứng thành quyền lực và giá trị trong chuỗi toàn cầu. Muốn thoát khỏi vị thế chủ yếu cung cấp nguyên liệu, ngành cà phê phải tăng liên kết, minh bạch dữ liệu, nâng chuẩn chất lượng, phát triển chế biến sâu và xây dựng thương hiệu để từng bước tham gia định hình cuộc chơi.
Việt Nam giữ vị trí hàng đầu thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều, nhưng lợi thế về quy mô chưa đồng nghĩa với khả năng giữ lại giá trị tương xứng. Bài toán được đặt ra không chỉ là bảo đảm nguồn nguyên liệu, mà còn phải thay đổi cách tạo giá trị, từ công nghệ chế biến đến thị trường tiêu thụ...
Đắk Lắk và Tổ chức IDH Việt Nam hợp tác phát triển vùng cà phê bền vững khoảng 75.000 ha trong giai đoạn 2026-2030, hướng tới thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên đất, nước và rừng. Chương trình đồng thời thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đáp ứng quy định EUDR, qua đó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của cà phê Đắk Lắk...
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt để ngành nông nghiệp và môi trường nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, công nghệ bảo quản, chế biến sâu hạn chế, dữ liệu chưa liên thông đang cản trở tăng trưởng. Tháo gỡ những điểm nghẽn này đòi hỏi tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà trường...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...