Hội nghị “Phát triển nuôi trồng thuỷ sản các tỉnh phía Bắc
năm 2026 và triển khai Đề án phát triển nuôi trồng thuỷ sản hồ chứa giai đoạn
2026-2030” sẽ được tổ chức vào chiều 3/4/2026 tại tỉnh Lào Cai. Thông tin tại họp báo thường kỳ của Bộ Nông
nghiệp và Môi trường ngày 1/4, ông Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và
Kiểm ngư cho biết đây là hoạt động nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ của Chương trình quốc
gia phát triển nuôi trồng thủy sản, đồng thời đánh giá kết quả năm 2025 và định
hướng cho năm 2026. Hội nghị sẽ tập trung nhìn nhận toàn diện thực trạng nuôi
trồng thủy sản khu vực phía Bắc, từ đó đề ra các giải pháp phát triển phù hợp
trong bối cảnh mới.
NHIỀU “ĐIỂM NGHẼN” CẦN THÁO GỠ
Theo ông Nhữ Văn Cẩn, trong những năm gần đây, nuôi trồng
thủy sản các tỉnh phía Bắc (từ Thừa Thiên Huế trở ra) duy trì đà tăng trưởng ổn
định. Năm 2025, diện tích nuôi đạt khoảng 309 nghìn ha, chiếm 23% cả nước, với
sản lượng khoảng 1,3 triệu tấn, tương đương 21% tổng sản lượng nuôi trồng thủy
sản toàn quốc.
Dù tỷ trọng xuất khẩu chưa lớn, ngành vẫn giữ vai trò
quan trọng trong đảm bảo an ninh thực phẩm, phục vụ tiêu dùng nội địa và tạo
sinh kế cho người dân. Các đối tượng nuôi chủ yếu gồm tôm nước lợ, cá nước ngọt
như rô phi và cá truyền thống, cùng một số loài đặc sản, cá nước lạnh (cá tầm,
cá hồi) và các đối tượng nuôi biển như cá song, cá vược, cá chim vây vàng, hàu,
tu hài, ngao.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, nuôi trồng thủy sản khu vực
phía Bắc đang trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng
hóa. Tuy nhiên, quá trình này gặp nhiều khó khăn. Trước hết là tình trạng sản
xuất phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu do các hộ cá thể thực hiện, thiếu liên kết
chuỗi giá trị. Điều này khiến năng suất và giá trị sản phẩm chưa tương xứng với
tiềm năng. Nuôi biển bước đầu hình thành nhưng quy mô còn khiêm tốn, công nghệ
chưa đồng bộ. Sản phẩm nổi bật là các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, hàu
tại một số địa phương ven biển.
Bên cạnh đó, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ còn thiếu và yếu,
từ giao thông, hệ thống cấp thoát nước đến dịch vụ giống, thức ăn và tiêu thụ sản
phẩm. Chuỗi cung ứng chưa đồng bộ làm tăng chi phí và giảm hiệu quả sản xuất. Công
tác quản lý cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu cơ sở dữ liệu về phân
vùng nuôi và đánh giá sức tải môi trường. Sự chồng chéo trong quản lý giữa các
ngành gây khó khăn cho tổ chức sản xuất và thu hút đầu tư.
DƯ ĐỊA LỚN TỪ HỆ THỐNG HỒ CHỨA
Đáng chú ý, tiềm năng lớn nhất hiện nay lại chưa được
khai thác hiệu quả, đó là nuôi trồng thủy sản trên các hồ chứa. Việt Nam hiện
có hệ thống hồ chứa rất lớn, với khoảng 6.750 hồ thủy lợi đang hoạt động, tổng
dung tích khoảng 14,5 tỷ m³, cùng hơn 700 hồ thủy điện. Trong đó, có 13 hồ có
diện tích mặt nước trên 5.000 ha, nâng tổng dung tích toàn hệ thống lên hơn 50
tỷ m³.
Các hồ chứa phân bố rộng khắp, tập trung nhiều ở miền núi
phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài chức năng phát điện, cấp nước và điều
tiết lũ, các hồ còn là nơi lưu giữ nguồn lợi thủy sản phong phú, có tiềm năng lớn
để phát triển nuôi trồng, du lịch sinh thái và các dịch vụ liên quan. Tuy vậy,
việc khai thác mặt nước hồ chứa cho nuôi trồng thủy sản hiện vẫn còn hạn chế,
chủ yếu mang tính tự phát, thiếu quy hoạch và kiểm soát.
Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng này, ngày 2/3/2026, Bộ
Nông nghiệp và Môi trường đã phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ
chứa giai đoạn 2026-2030 tại Quyết định số 707/QĐ-BNNMT.
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng hơn 260.000
tấn mỗi năm, với tổng giá trị khoảng 16.000 tỷ đồng. Trong đó, nuôi lồng bè chiếm
hơn 190.000 tấn, nuôi thả trực tiếp hơn 70.000 tấn. Đề án cũng hướng tới tạo việc làm cho hơn 80.000 lao động,
nâng thu nhập từ nuôi trồng thủy sản hồ chứa tăng trên 50% so với năm 2025.
Đáng chú ý, trên 30% lao động tham gia là đồng bào dân tộc thiểu số.
Song song với đó, hơn 50% cơ sở nuôi thuỷ sản hồ chứa sẽ tham gia tổ hợp
tác, hợp tác xã hoặc chuỗi liên kết; 100% cơ sở cập nhật thông tin trên cơ sở dữ
liệu quốc gia về thủy sản. Một phần cơ sở nuôi lồng bè sẽ áp dụng quy trình thực
hành tốt (VietGAP hoặc tương đương), sử dụng vật liệu thân thiện môi trường.
HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, ĐA GIÁ TRỊ
Đề án xác định phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa
theo hướng hiệu quả, bền vững và hài hòa với các mục tiêu sử dụng nước khác như
thủy lợi, thủy điện và bảo vệ môi trường. Việc khai thác mặt nước sẽ gắn với ứng
dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giảm thiểu tác động
tiêu cực đến hệ sinh thái.
Một trọng tâm quan trọng là phát triển chuỗi giá trị hoàn
chỉnh từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến và tiêu thụ, hướng tới sản xuất
hàng hóa hiện đại, có khả năng cạnh tranh cao. Đồng thời, phát huy vai trò của
cộng đồng trong quản lý và phát triển, tạo sinh kế bền vững cho người dân ven hồ.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Đề án đưa ra nhiều nhóm giải
pháp đồng bộ. Trước hết là phát triển các hình thức nuôi phù hợp với điều kiện
sinh thái từng loại hồ, như nuôi lồng bè, nuôi thả trực tiếp và nuôi sinh thái.
Cùng với đó là xây dựng hệ thống sản xuất và cung ứng giống, thức ăn, vật tư ngay
tại chỗ, ưu tiên các loài bản địa và gắn với liên kết chuỗi. Hạ tầng và dịch vụ
hỗ trợ cũng sẽ được đầu tư, đặc biệt tại các vùng có tiềm năng sản xuất tập
trung.
Phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản hồ
chứa là một hướng đi quan trọng, thông qua áp dụng tiêu chuẩn chất lượng, chỉ dẫn
địa lý và tăng cường hoạt động quảng bá. Đề án cũng nhấn mạnh việc hoàn thiện
cơ chế chính sách, tăng cường quản lý nhà nước, phân vùng nuôi hợp lý và nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực.