Cụ thể, Hội đồng đã xem xét phê duyệt trữ lượng than tại mỏ than Tràng Bạch, thuộc các phường Hoàng Quế và Bình Khê, mỏ than Tây Khe Sim thuộc các phường Quang Hanh và Mông Dương, tỉnh Quảng Ninh.
Cùng với đó xem xét trữ lượng đá vôi làm nguyên liệu sản xuất vôi công nghiệp tại khu vực thị trấn Kiện Khê và xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam (nay là phường Châu Sơn và xã Tân Thanh, tỉnh Ninh Bình).
Đại diện đơn vị thực hiện báo cáo thăm dò mỏ Tràng Bạch, Công ty Cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi trường- Vinacomin, cho biết TKV đã hoàn thành công tác thăm dò bổ sung, với mục tiêu nâng cấp các khối tài nguyên cấp 333 (tài nguyên dự tính) trong phạm vi Giấy phép khai thác được cấp.
Khối lượng thi công gồm 1.508,4m khoan máy/7 lỗ khoan, hơn 1.500m đo địa vật lý, cùng hàng trăm mẫu khí, mẫu than, mẫu cơ lý đá được phân tích. Đơn vị tư vấn đã sử dụng tổng hợp dữ liệu của hơn 480 lỗ khoan từ các giai đoạn trước.
Đối với mỏ than Tây Khe Sim thuộc các phường Quang Hanh và Mông Dương, tỉnh Quảng Ninh, Công ty cổ phần Địa chất Việt Bắc- TKV thông tin: đơn vị đã thi công 11 lỗ khoan với tổng chiều dài 1.914,5m, cập nhật cấu trúc địa chất mỏ đến thời điểm hiện tại, làm rõ đặc điểm vỉa than, chất lượng than và điều kiện địa chất- kỹ thuật.
Kết quả tính toán cho thấy trữ lượng nâng cấp đạt 1,074 triệu tấn. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục tổ chức khai thác an toàn, hiệu quả trong phạm vi Giấy phép khai thác đã được cấp.
Tại cuộc họp, Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia đã thống nhất thông qua nhiều khối trữ lượng quan trọng. Cụ thể, tại mỏ than Tràng Bạch, trữ lượng nâng cấp đạt 22,747 triệu tấn; tại mỏ than Tây Khe Sim, trữ lượng cấp 122 được nâng cấp từ tài nguyên cấp 333 đạt 1,074 triệu tấn; đồng thời xem xét trữ lượng đá vôi phục vụ sản xuất vôi công nghiệp tại khu vực phường Châu Sơn và xã Tân Thanh (tỉnh Ninh Bình).
Theo đánh giá của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Quý Kiên, đây là các kết quả quan trọng, làm cơ sở cho công tác thiết kế khai thác và quy hoạch phát triển ngành than trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời bảo đảm tuân thủ quy định về phân cấp tài nguyên, trữ lượng khoáng sản.




Việc thử nghiệm nhằm xác định mức độ ổn định, hiệu quả vận hành của công nghệ sản xuất tổng oxit đất hiếm hàm lượng trên 95% ở quy mô bán công nghiệp; đánh giá khả năng mở rộng, triển khai công nghệ ở quy mô công nghiệp…
Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất nâng mức phụ cấp nghề nghiệp lên đến 70% nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao cho ngành điện hạt nhân tại Việt Nam...
Bước sang giai đoạn thực thi đầy đủ của CBAM và các tiêu chuẩn ESG khắt khe, chuyển đổi xanh không còn là sự lựa chọn tự nguyện hay cam kết hình thức, mà đã trở thành mệnh lệnh sinh tồn đối với doanh nghiệp tại các khu công nghiệp...
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đặng Hồng Hạnh, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành VNEEC, cho rằng bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp lý, Việt Nam cần sớm làm rõ quyền sở hữu tín chỉ carbon, xây dựng hệ thống đăng ký có khả năng kết nối với các thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và các bên tham gia. Đây là những điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường carbon minh bạch, hiệu quả, góp phần thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh và thực hiện các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Dự báo trong tương lai, số lượng dự án tín chỉ carbon đăng ký theo các cơ chế (gồm cả cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước) sẽ gia tăng mạnh mẽ. Các loại hình dự án này được triển khai trực tiếp tại các địa phương nên việc phân cấp thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính về dự án tín chỉ carbon cho UBND cấp tỉnh sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, giảm tải áp lực cho cơ quan trung ương, nâng cao hiệu quả quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp…
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.