
Ngành công nghiệp khoáng sản có vai trò quan trọng, cung cấp nguyên liệu thiết yếu cho các ngành vật liệu mới, năng lượng, công nghiệp quốc phòng và công nghệ cao. Theo Ông Đậu Anh Tuấn – Phó Tổng Thư ký VCCI, khoáng sản là chìa khóa nâng cao vị thế địa chính trị của Việt Nam. Với trữ lượng khoáng sản quý hiếm đứng top 10 thế giới, đặc biệt là Đất hiếm và Vonfram, tài nguyên Việt Nam sẽ là nền tảng cho các ngành công nghệ tương lai như sản xuất pin, chip bán dẫn, vũ khí hiện đại hay tên lửa phòng không.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước đã nhất quán: tập trung phát triển chế biến sâu theo tinh thần Nghị quyết 10/NQ-TW. Tuy nhiên, tiềm năng phát triển của ngành khai khoáng đang chưa được khai thác tối đa do chính sách tài chính còn nhiều bất cập. Ông Tuấn nhấn mạnh, nghĩa vụ tài chính hiện nay của các doanh nghiệp khoáng sản tại Việt Nam cao hơn nhiều lần so với mức trung bình của nhiều quốc gia khác, tạo ra rủi ro lớn cho năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư.
Vì vậy, cần có đánh giá toàn diện chính sách hiện hành trong ngành khoáng sản, đồng thời đối thoại cởi mở, thẳng thắn giữa các bên liên quan để xác định đúng mức độ gánh nặng thuế – tài chính, từ đó xây dựng chính sách hài hòa, thúc đẩy phát triển bền vững cho ngành.
Bất cập lớn nhất nằm ở việc áp dụng đồng thời Thuế Tài nguyên và Tiền cấp quyền khai thác, tạo ra tình trạng "thuế chồng thuế". TS Nguyễn Tiến Chỉnh chỉ rõ: hai khoản thu này về bản chất là một, nhưng việc tách ra đã đẩy gánh nặng thuế, phí (chưa kể Thuế Thu nhập doanh nghiệp) của doanh nghiệp khoáng sản Việt Nam lên tới khoảng 25,1% doanh thu.
Đáng chú ý, việc áp dụng Thuế TNDN 50% đối với doanh nghiệp khai thác khoáng sản vonfram đi ngược lại chủ trương khuyến khích đầu tư vào các khoáng sản chiến lược.
Từ đó tồn tại thực trạng dù trữ lượng nằm trong top 10 thế giới, giá trị xuất khẩu quặng và kim loại của Việt Nam chỉ đạt 3,9 tỷ USD (2023) top 41 thế giới, theo dữ liệu từ Deloitte.
Trường hợp của Masan High-Tech Materials (MHT), nhà sản xuất Vonfram hàng đầu Việt Nam là ví dụ điển hình cho những bất cập chính sách đang cản trở sự phát triển của các doanh nghiệp ngành khai khoáng.
Cụ thể, MHT đã đầu tư hàng tỷ USD xây dựng dây chuyền công nghệ hiện đại, với mục tiêu thúc đẩy chế biến sâu, nâng cao giá trị khoáng sản trong nước. Tuy nhiên, khi dự án đi vào vận hành, thuế tài nguyên từ mức chỉ dưới 10% đã tăng lên từ 15-20% tùy loại khoáng sản. Các khoản thu khác như tiền cấp quyền khai thác khoảng sản và phí bảo vệ môi trường vốn không tồn tại trước khi dự án vận hành cũng bất ngờ… xuất hiện, làm đảo lộn các phương án tài chính của công ty.
Sự thiếu nhất quán trong các chính sách thuế tiếp tục làm mất lợi thế công nghệ của MHT khi nhiều sản phẩm đã được Bộ Công Thương xác nhận là sản phẩm công nghiệp nhưng vẫn nằm im trong Danh mục khoáng sản thô theo Nghị định 181/2025/NĐCP và đồng nghĩa với việc không được hoàn thuế VAT.
Ông Phan Chiến Thắng – Phó Tổng giám đốc Công ty Khai thác Chế biến khoáng sản Núi Pháo chia sẻ: “Các khoản thuế và phí chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định khiến mọi kế hoạch đầu tư dài hạn trở nên khó thực hiện và rủi ro hơn bao giờ hết. Chỉ khi có khung chính sách minh bạch, công bằng, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, ngành khoáng sản Việt Nam mới có thể vươn mình, cất cánh”.
Để ngành công nghiệp khoáng sản phát triển, các chuyên gia tại Hội thảo VCCI đều thống nhất cho rằng, cần xem xét lại các chính sách thuế.
Giải pháp hiệu quả nhất là hợp nhất Tiền cấp quyền và Thuế Tài nguyên thành một khoản thu duy nhất, đồng thời áp dụng chính sách ưu đãi có điều kiện như miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu và tận thu khoáng sản đi kèm.
Ông Nguyễn Văn Phụng – Nguyên Vụ trưởng Vụ QL Thuế Doanh nghiệp Lớn nhấn mạnh: "Vấn đề cốt lõi là cần hoàn thiện thể chế một cách đồng bộ. Việc hợp nhất Thuế Tài nguyên và Tiền cấp quyền là cần thiết để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và cạnh tranh quốc tế, đồng thời tạo động lực thực sự cho các dự án chế biến sâu."
Hội thảo “Chính sách tài chính cho ngành công nghiệp khoáng sản” mở ra kỳ vọng rằng với chính sách minh bạch, ổn định và cạnh tranh quốc tế, ngành khoáng sản Việt Nam sẽ “vươn mình”, biến tiềm năng thành giá trị thực, khai thác hiệu quả nguồn lực, phát triển chế biến sâu và nâng tầm vị thế quốc gia trên bản đồ vật liệu chiến lược toàn cầu.
Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu, yêu cầu phát triển xanh và áp lực cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường quốc tế, việc ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xem là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho toàn chuỗi sản xuất...
Triển lãm Kết nối Chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế (Viet Nam International Sourcing Expo - VIS 2026) không chỉ là nơi kết nối người mua và người bán, mà còn giúp doanh nghiệp “nghe” được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất, nâng chất lượng, chuyển đổi xanh và gia tăng giá trị...
Trong bối cảnh các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, EU và một phần Nhật Bản suy yếu, Trung Quốc - Hồng Kông cùng khối ASEAN đang trở thành động lực chính giúp duy trì đà tăng trưởng của ngành thủy sản Việt Nam...
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.
Thị trường nông sản, chăn nuôi và thủy sản trong tháng 8/2026 ghi nhận nhiều diễn biến trái chiều. Trong khi giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long và giá cà phê tại Tây Nguyên tăng so với tháng trước, thì giá lợn hơi, hồ tiêu và tôm thẻ chân trắng lại chịu áp lực giảm do nguồn cung dồi dào và sức mua chưa phục hồi mạnh...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.