
Tại kỳ họp thứ ba của Quốc hội, đã có ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị xem xét quyền sử dụng mặt nước biển của tổ chức, cá nhân được giao/cho thuê mặt nước biển là quyền tài sản.
Thông tin này được nêu trong báo cáo giải trình của Uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường về dự thảo Luật Thuỷ sản (sửa đổi), trong phiên họp sáng 14/8 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Là cơ quan thẩm tra dự án luật này, Uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường cho biết, hiện quyền chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn giá trị sử dụng mặt nước biển đã được quy định tại Luật Thủy sản 2003 thông qua hình thức quyết định cho thuê.
Tuy nhiên, hình thức này chưa được triển khai trong thực tế, do quyết định cho thuê mặt nước biển không có giá trị pháp lý đảm bảo trong các giao dịch thương mại cũng như thế chấp, kể cả khi tổ chức, cá nhân đã thuê và đóng góp đầy đủ nghĩa vụ tài chính trên diện tích được thuê.
Chính vì thế, dự thảo luật đã chỉnh sửa theo hướng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước biển, tạo cơ sở cho tổ chức, cá nhân được thuê mặt nước biển có điều kiện thực hiện các quyền của mình để huy động thêm nguồn lực tài chính đảm bảo cho phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển.
Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng nhấn mạnh dòng chữ được in nghiêng tại báo cáo giải trình: đây là việc lớn, nhạy cảm, kính trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về vấn đề này.
Một vấn đề cũng được cơ quan thẩm tra dùng hai chữ “nhạy cảm”, là quy định cho đối tượng người nước ngoài được thuê mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản.
Thường trực Uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường cho rằng, đây là vấn đề nhạy cảm, không chỉ liên quan đến kinh tế mà còn khả năng ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Do vậy dự thảo luật chỉnh lý theo hướng quy định thẩm quyền của Thủ tướng quyết định cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản, và giao Chính phủ quy định chi tiết.
Chưa có đánh giá hoạt động thực tiễn của kiểm ngư
Tuy nhiên, nội dung được bàn thảo sôi nổi nhất trong phiên họp sáng 14/8 lại là quy định về lực lượng kiểm ngư.
Qua thảo luận tại kỳ họp thứ ba, ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đều thống nhất có kiểm ngư Trung ương, riêng kiểm ngư cấp tỉnh còn có ý kiến khác nhau. Đó là thành lập kiểm ngư tại tất cả 28 tỉnh, thành phố ven biển (phương án Chính phủ trình), hay là chỉ thành lập kiểm ngư ở một số tỉnh, thành phố ven biển có tính đặc thù.
Cơ quan thẩm tra đã chọn phương án hai.
Cho rằng những quy định về lực lượng kiểm ngư tới đây cần được tập hợp, nâng lên thành pháp lệnh hoặc luật riêng, song Phó chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ vẫn thấy băn khoăn vì hoạt động thực tiễn của lực lượng này chưa được tổng kết, đánh giá.
Cùng quan điểm, Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga khẳng định, kiểm ngư là lực lượng rất quan trọng nhưng cần đánh giá hoạt động từ khi thành lập đến nay như thế nào. “Dự thảo luật nói về nội dung thì có vẻ rất chi tiết nhưng lại chưa quy định hệ thống cơ quan kiểm ngư và chức năng nhiệm vụ của từng cấp”, bà Nga nhận xét.
Theo bà Nga, với trách nhiệm, quyền hạn được quy định rất rộng hoạt động kiểm ngư bao gồm cả điều tra, xử lý vi phạm theo pháp luật hình sự, được sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, truy đuổi, bắt giữ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế... có liên quan đến Hiến pháp và nhiều luật khác, nên về lâu dài phải được điều chỉnh bằng riêng một luật.
“Biển Đông sôi động như thế thì lực lượng kiểm ngư hết sức quan trọng, cần được quy định trong luật, nhưng hoạt động mới có hơn năm trời thì làm sao tổng kết được mặt mũi thế nào?”, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường hồi âm.
Không đồng tình với Bộ trưởng, Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải cho rằng năm 2014 lực lượng kiểm ngư đã đi vào hoạt động, thì đến nay là ba năm chứ không phải một năm. Với thời gian này thì theo bà Hải là có thể tổng kết được.
“Tiếp xúc với anh em kiểm ngư, thấy họ còn rất nhiều băn khoăn, cần có tổng kết nghị định quy định về kiểm ngư trong thời gian mấy năm rồi như thế nào, bất cập ra làm sao để luật hoá”, bà Hải đề nghị.
Phó chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ lên tiếng: “Lực lượng kiểm ngư đặc biệt cần thiết, đồng ý tổ chức ở cấp trung ương và cấp tỉnh, nhưng để làm chuyện này nhất thiết phải có sơ kết, tổng kết, không tổng kết thì cơ sở đâu để anh đề xuất như thế, không tổng kết mà đưa vào luật là thiếu trách nhiệm, không thể nói theo ý chí chủ quan”.
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đánh giá Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm đã không ngừng phát triển, khẳng định vị thế là một trong những cơ quan báo chí kinh tế hàng đầu, uy tín của đất nước...
"Chúng tôi tin tưởng Tạp chí Kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ, hiện thực hóa mục tiêu trở thành tổ hợp truyền thông đa nền tảng, hiện đại, chất lượng cao, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước"...
Công tác chuẩn bị năm học 2026-2027 phải tạo chuyển biến thực chất trong nhà trường, đội ngũ giáo viên và người học, đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết 71-NQ/TW bằng nhiệm vụ, nguồn lực, thời hạn và trách nhiệm rõ ràng.
Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu tập trung tái cơ cấu hệ thống phân phối, cắt giảm khâu trung gian và bắt buộc số hóa dữ liệu. Việc hoàn thiện khung pháp lý này nhằm minh bạch hóa thị trường, bảo đảm an ninh năng lượng và duy trì nguồn cung ổn định cho nền kinh tế trong mọi tình huống…
Báo chí Cách mạng Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong việc giám sát xã hội và phản biện chính sách. Chính năng lực giám sát, phản biện đã thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế, tạo nên uy tín và sức mạnh cho báo chí với tư cách một “quyền lực thứ tư” trong đời sống hiện đại.
Kinh tế ngày nay không còn là một lĩnh vực tách biệt, mà được định hình mạnh mẽ bởi địa chính trị, công nghệ và tính bền vững. Giữa dòng chảy thông tin dồi dào, điều độc giả cần nhất ở báo chí chính thống là bối cảnh, góc nhìn chuyên sâu và sự tin cậy. Trong giai đoạn tới, sứ mệnh lớn nhất của báo chí kinh tế không phải là trở thành người đưa tin nhanh nhất, mà là trở thành nền tảng tinh thần của nền kinh tế.
Hạ tầng năng lượng thông minh đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa vận hành hệ thống năng lượng, tăng cường khả năng tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam. Nhận diện các cơ hội và thách thức, đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng năng lượng thông minh đang là yêu cầu cấp thiết.