Chiều 3/3, Bộ Tư pháp tổ chức họp Hội đồng thẩm định hồ sơ
chính sách của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh
tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Các
dự án luật trên do Bộ Công thương chủ trì soạn thảo.
Tại cuộc họp, ông Ngô Đức Minh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ
Công Thương cho biết dự án luật nhằm thể chế hóa chính sách về đẩy mạnh phân cấp,
phân quyền kết hợp nội dung cải cách thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh
doanh. Đồng thời, tháo gỡ các khó khăn vướng mắc có nguyên nhân từ pháp luật.
Theo dự thảo tờ trình, Bộ Công thương đề xuất phân quyền cấp phép
gia công hàng hóa thuộc diện xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép từ Bộ Công
Thương sang Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật Quản lý
ngoại thương.
Điều này nhằm giảm tải thủ tục hành chính tại các Bộ; các bộ,
ngành tập trung xây dựng chính sách, pháp luật, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát. Đồng thời giảm chi phí cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường
đầu tư, kinh doanh; thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế tại các địa phương.
Bên cạnh đó, dự án luật sẽ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc ở từng
luật. Đối với Luật Thương mại, Bộ Công thương đề xuất quy định khái niệm “hàng
giả” theo hướng bao gồm giả về nội dung, hình thức và tem, nhãn, bao bì hàng
hóa giả.
Theo Bộ Công thương, việc luật hóa khái niệm theo hướng rộng
giúp tăng hiệu lực pháp lý, tạo chuẩn thống nhất và giảm nguy cơ bỏ lọt hành vi
trong điều kiện thủ đoạn làm giả ngày càng tinh vi cũng như sự phát triển của
thương mại điện tử. Quy định này tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho lực lượng quản
lý thị trường và các cơ quan thực thi khi ngăn chặn, thu giữ, xử lý.
Bên cạnh đó, dự thảo bãi bỏ quy định về hàng hóa, dịch vụ cấm
kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; bãi bỏ điều kiện
kinh doanh dịch vụ giám định thương mại; sửa đổi quy định về độc quyền nhà nước;
bãi bỏ nội dung về hợp đồng và giải quyết tranh chấp tại Luật Thương mại.
Đối với Luật Quản lý ngoại thương, dự thảo bổ sung cơ chế
cho doanh nghiệp nhập khẩu lại hàng hóa đã xuất khẩu (bao gồm hàng cấm nhập khẩu)
và tái xuất sang thị trường nước khác; hoàn thiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; hoàn thiện khái niệm giấy chứng nhận lưu hành tự
do.
Liên quan đến Luật Cạnh tranh, Bộ Công thương đề xuất nâng
cao hiệu lực, hiệu quả phát hiện, điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh nhằm xử
lý nghiêm các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh
phù hợp với thực tiễn cạnh tranh trên thị trường, sự phát triển của nền kinh tế,
đặc biệt là kinh tế số.
Theo Bộ Công thương, cần hoàn thiện quy định về hành vi bị cấm
theo hướng bổ sung, làm rõ trách nhiệm của chủ thể giúp sức, hỗ trợ thực hiện
hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh; bổ sung hành vi
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, hành vi cạnh
tranh không lành mạnh bị cấm.
Cụ thể hóa và tăng cường kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh, vị trí độc quyền trong môi trường nền tảng số theo hướng bổ sung,
làm rõ các hành vi như tự ưu tiên, phân biệt đối xử, áp đặt điều kiện giao dịch
không công bằng, ràng buộc dịch vụ, cản trở dịch vụ thay thế, can thiệp cơ chế
xếp hạng, lạm dụng dữ liệu.
Mặt khác, hoàn thiện quy định xử lý vi phạm pháp luật về
cạnh tranh theo hướng quy định mang tính nguyên tắc chung. Việc hoàn thiện các quy định về tố tụng cạnh tranh theo hướng
minh bạch, thuận lợi và đảm bảo việc doanh nghiệp tránh rủi ro pháp lý bị xử lý
trùng lặp về tố tụng cạnh tranh và xử phạt hành chính.
Tại cuộc họp, TS Nguyễn Hữu Huyên, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp cho rằng các luật này đều liên quan trực diện đến các doanh nghiệp Việt Nam, ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh. Do đó, ông đề nghị Bộ Công Thương lấy ý kiến tham gia của các doanh nghiệp.
Theo ông Huyên, nên rà soát lại các quy định của Luật Thương mại để chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm; hoạt động xuất nhập khẩu cũng nên chuyển về một đầu mối quản lý.
Phó Cục trưởng Cục Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp Lê Thị Hoàng Thanh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung, làm rõ căn cứ thực hiện đánh giá tác động chính sách của dự án luật.
Đồng thời, cần luận giải thuyết phục hơn việc lựa chọn một số điều khoản để sửa đổi, bổ sung lần này nhằm bảo đảm tính phù hợp, kế thừa và tiếp nối; làm rõ cơ sở của việc chưa tiến hành sửa đổi toàn diện một số luật có liên quan.