Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, liên kết chuỗi giá trị trở thành phương thức tổ chức sản xuất tất yếu nhằm nâng cao giá trị gia tăng, giảm chi phí trung gian và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế. Nghị định 98/2018/NĐ-CP là văn bản pháp lý đầy đủ nhất trong giai đoạn đầu về phát triển liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Qua 6 năm triển khai, chính sách liên kết theo Nghị định 98 đã góp phần thúc đẩy hình thành gần 3.000 dự án và kế hoạch liên kết, với sự tham gia của hơn 2.400 hợp tác xã, 1.300 doanh nghiệp và hơn 211 nghìn hộ nông dân, từng bước hình thành các chuỗi liên kết trong nhiều ngành hàng chủ lực.
Nếu năm 2018, giá trị sản phẩm nông nghiệp được sản xuất dưới hình thức hợp tác và liên kết khoảng 10% thì năm 2025 con số này tăng lên hơn 31%.
Cũng theo báo cáo, trong số các dự án, kế hoạch liên kết, lĩnh vực trồng trọt có nhiều nhất với 1.969 dự án, kế hoạch (chiếm 67%), tiếp đến là lĩnh vực chăn nuôi có 695 dự án, kế hoạch (chiếm 23,7%); lĩnh vực thủy sản có 72 dự án, kế hoạch (chiếm 2,5%); lĩnh vực lâm nghiệp chỉ có 184 dự án, kế hoạch (chiếm 6,3%).
Các địa phương đã phê duyệt được 1.738 liên kết đối với các sản phẩm chủ lực quốc gia. Nghị định 98 đã giúp thúc đẩy mối quan hệ hợp tác công tư (PPP) giữa nhà nước với doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và các tổ chức khác trong chuỗi liên kết. Đồng thời, phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức nông dân…
Bất cập hiện nay là nông nghiệp Việt Nam thiếu các vùng nguyên liệu quy mô lớn, ổn định và đạt chuẩn để phục vụ chế biến sâu và xuất khẩu.
Đặc biệt, hợp tác xã đóng vai trò chủ trì trong khoảng 79% số dự án, kế hoạch liên kết đã được phê duyệt. Tuy nhiên, năng lực quản trị của nhiều hợp tác xã còn hạn chế, quy mô vốn nhỏ, khó tiếp cận tín dụng và thiếu nguồn lực để đầu tư hạ tầng phục vụ liên kết.
Mặt khác, một số địa phương và doanh nghiệp cũng phản ánh nhiều dự án liên kết gặp khó khăn do thủ tục phê duyệt, thẩm định và giải ngân phức tạp; sự chồng chéo giữa Nghị định 98 và các chương trình mục tiêu quốc gia; thiếu cơ chế tín dụng, bảo hiểm và chia sẻ rủi ro trong chuỗi liên kết.
Nhìn sang các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc đang áp dụng ngày càng nhiều tiêu chuẩn khắt khe về truy xuất nguồn gốc sản phẩm; sản xuất nông nghiệp bền vững; giảm phát thải khí nhà kính; bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.
Cùng với đó, nông nghiệp đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp số. Các quốc gia ngày càng chú trọng xây dựng hệ thống dữ liệu nông nghiệp, các công cụ quản trị chuỗi giá trị dựa trên công nghệ số…
Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh việc sửa đổi Nghị định 98/2018/NĐ-CP sẽ giúp xây dựng khung chính sách mới thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị nông sản hiện đại, bền vững và hội nhập sâu với kinh tế toàn cầu.
Dự thảo Nghị định do Bộ Nông nghiệp và Môi trường soạn thảo dự kiến gồm 4 chương, 24 điều, tập trung chuyển từ chính sách “khuyến khích” sang “phát triển” liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp. Nhà nước tập trung hỗ trợ những khâu nền tảng mà chính sách hiện hành chưa bao phủ, không thay thế và không hỗ trợ trùng lặp với chính sách chuyên ngành.
Nếu Nghị định 98 chủ yếu quy định nguyên tắc chung về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ, lựa chọn chính sách có lợi nhất và khuyến khích huy động nguồn lực thì dự thảo đã bổ sung các nguyên tắc mới về điều kiện hỗ trợ gắn với dự án liên kết được phê duyệt, hợp đồng liên kết, tiến độ thực hiện và khả năng cân đối nguồn lực của Nhà nước.
Dự thảo quy định việc hỗ trợ căn cứ vào mức độ tham gia, trách nhiệm và cam kết của từng chủ thể, bảo đảm phân bổ nguồn lực công bằng và hiệu quả hơn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, điểm mới nổi bật là quy định ưu tiên hỗ trợ đối với các dự án thực hiện tại địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, dự án phát triển sản phẩm chủ lực, OCOP, xuất khẩu, có vùng nguyên liệu ổn định, áp dụng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải
Đặc biệt, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP thiếu các định mức trần khống chế đã tạo ra cơ chế 'xin - cho', khiến mỗi địa phương tự ban hành một mức hỗ trợ khác nhau, gây ra sự bất bình đẳng và nguy cơ thất thoát ngân sách.
Điều 9 của dự thảo đã thiết lập nguyên tắc khống chế mức trần rõ ràng (tối đa 80% cho hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp của chủ thể và tối đa 100% cho nhiệm vụ công ích chung của chuỗi). Quy định này giúp cân đối nguồn lực ngân sách nhà nước và phân định rạch ròi giữa trách nhiệm đầu tư tư nhân với phần hạ tầng công ích do Nhà nước hỗ trợ.
Về việc bổ sung quy định về phát triển vùng nguyên liệu, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường đề nghị “giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành tiêu chí hướng dẫn kỹ thuật về bộ tiêu chí vùng nguyên liệu phù hợp từng sản phẩm/nhóm sản phẩm và điều kiện từng vùng mang tính khuyến khích để bảo đảm tính khả thi khi triển khai”.
Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng không quy định cứng bộ tiêu chí vùng nguyên liệu theo từng sản phẩm ngay trong Nghị định bởi lẽ, đây là nội dung có tính kỹ thuật chuyên ngành, cần thường xuyên cập nhật theo yêu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, yêu cầu xuất khẩu và điều kiện thực tiễn sản xuất trong từng thời kỳ.
Dự thảo Nghị định cũng sửa đổi quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục phê duyệt dự án liên kết và nội dung hỗ trợ.
Theo cơ quan soạn thảo, Nghị định số 98 quy định các thủ tục hành chính rườm rà, kéo dài qua nhiều tầng nấc trung gian khiến các chủ thể mất nhiều tháng mới được phê duyệt một dự án, làm lỡ thời vụ sản xuất nông nghiệp quan trọng.
Vì vậy, điều 16 dự thảo cắt giảm trên 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Theo đó, giảm thời gian kiểm tra hồ sơ xuống 3 ngày, thẩm định xuống 10 ngày, phê duyệt xuống 7 ngày.
Cùng với đó là kết hợp đẩy mạnh nộp hồ sơ trực tuyến trên hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và loại bỏ quy định cứng bắt buộc thành lập hội đồng thẩm định cho mọi dự án nhỏ. Điều này sẽ giúp cắt giảm tối đa chi phí tuân thủ pháp luật và tạo động lực mạnh mẽ thu hút các chủ thể tham gia.
Dự thảo vẫn giữ các thành phần hồ sơ cơ bản nhưng chỉ còn dự án liên kết, bỏ hình thức kế hoạch hỗ trợ.
Đồng thời bổ sung hợp đồng hoặc thỏa thuận liên kết bằng văn bản; bổ sung yêu cầu về truy xuất nguồn gốc và các tài liệu liên quan đến nội dung hỗ trợ mới (hạ tầng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số...).
Điều này thể hiện chuyển từ hỗ trợ theo kế hoạch sang quản lý theo dự án, phù hợp với định hướng phát triển chuỗi giá trị.
Mặt khác, dự thảo quy định đầy đủ các nội dung như thông tin dự án, chủ trì liên kết, vùng nguyên liệu, nội dung hỗ trợ, nguồn vốn, trách nhiệm các bên, cơ chế giám sát và xử lý vi phạm. Điều này tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho tổ chức thực hiện, nghiệm thu và kiểm tra sau hỗ trợ…




Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất nâng mức phụ cấp nghề nghiệp lên đến 70% nhằm thu hút nhân lực chất lượng cao cho ngành điện hạt nhân tại Việt Nam...
Mực nước các con sông xuống thấp kỷ lục đang làm đảo lộn hoạt động vận tải đường thủy tại châu Âu, đẩy chi phí logistics tăng cao và đặt ra bài toán lớn hơn về khả năng thích ứng của hạ tầng trước biến đổi khí hậu…
Bước sang giai đoạn thực thi đầy đủ của CBAM và các tiêu chuẩn ESG khắt khe, chuyển đổi xanh không còn là sự lựa chọn tự nguyện hay cam kết hình thức, mà đã trở thành mệnh lệnh sinh tồn đối với doanh nghiệp tại các khu công nghiệp...
Các đối tác sẽ hợp tác hỗ trợ quá trình giảm carbon bằng hỗ trợ nâng cao năng lực, đánh giá kỹ thuật và rà soát các chính sách, quy định, giải pháp liên quan để đề xuất các khuyến nghị cho thành phố; xây dựng và tư vấn thực hiện Kế hoạch giảm phát thải carbon thành phố giai đoạn 2026- 2030, tầm nhìn đến năm 2050; tư vấn về ETS thí điểm và các giải pháp chuyển đổi năng lượng…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đặng Hồng Hạnh, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành VNEEC, cho rằng bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp lý, Việt Nam cần sớm làm rõ quyền sở hữu tín chỉ carbon, xây dựng hệ thống đăng ký có khả năng kết nối với các thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và các bên tham gia. Đây là những điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường carbon minh bạch, hiệu quả, góp phần thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh và thực hiện các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Những ngày này, trên công trường mở rộng Đại lộ Lê Lợi, tỉnh Thanh Hóa, không khí thi công diễn ra khẩn trương. Máy móc, nhân lực được huy động tối đa để hoàn thiện các hạng mục, hướng tới mục tiêu thông xe kỹ thuật vào dịp 2/9.