TS Trương Tất Đơ, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đặt ra hai yêu cầu cốt lõi.
Thứ nhất: Hàng hóa phải được sản xuất không gây mất rừng, với mốc thời gian xác định là từ sau ngày 31/12/2020.
Thứ hai: Hàng hóa phải được sản xuất hợp pháp theo pháp luật của quốc gia sản xuất. Các doanh nghiệp sẽ sử dụng những thông tin này để lập hồ sơ thẩm định gửi nhà nhập khẩu châu Âu.
Theo TS Trương Tất Đơ, muốn chứng minh sản phẩm không gây mất rừng thì bắt buộc phải có hai loại dữ liệu, gồm: bản đồ ranh giới rừng và tọa độ địa lý của từng lô sản xuất. Khi chồng ghép hai nguồn dữ liệu này mới có thể xác định lô hàng có nằm trên diện tích rừng bị chuyển đổi sau ngày 31/12/2020 hay không.
Trong trường hợp Việt Nam không tự xây dựng bản đồ rừng, thì EU sẽ sử dụng dữ liệu của họ để đánh giá. Hiện nhiều tổ chức như Joint Research Centre (JRC), World Resources Institute (WRI) hay FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc) đều cung cấp bản đồ rừng toàn cầu dựa trên ảnh vệ tinh. Tuy nhiên, các bộ dữ liệu này chủ yếu được giải đoán từ ảnh vệ tinh có độ phân giải trung bình hoặc thấp và chưa được kiểm chứng đầy đủ ngoài thực địa nên vẫn tồn tại sai số.
Chẳng hạn, nhiều diện tích cà phê ở Việt Nam được trồng dưới tán cây che bóng có thể bị hệ thống quốc tế nhận diện là rừng. Nếu doanh nghiệp cung cấp tọa độ vùng trồng để xuất khẩu sang EU, hệ thống quốc tế có thể đối chiếu với bản đồ của họ và kết luận khu vực đó là rừng, từ đó từ chối lô hàng. Đây là nguy cơ có thể ảnh hưởng đến nhiều ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam.
TS Trương Tất Đơ cho biết để xây dựng bản đồ phục vụ EUDR, nhóm nghiên cứu của Cục Lâm nghiệp và Kiểm Lâm sử dụng bản đồ hiện trạng rừng năm 2020 đã được công bố kết hợp với ảnh vệ tinh Sentinel-2, Landsat và một số nguồn ảnh viễn thám khác. Sau đó, dữ liệu được so sánh với các bộ bản đồ quốc tế để xây dựng bản đồ sơ bộ trước khi gửi các địa phương kiểm chứng.
Đến nay, nhóm nghiên cứu của Cục Lâm nghiệp và Kiểm Lâm đã nhận được kết quả rà soát từ 34 tỉnh, trong đó đã xử lý xong dữ liệu của 13 tỉnh đầu tiên. Qua kiểm chứng, khoảng 33.600 lô có sai khác so với thực tế, cho thấy việc rà soát là rất cần thiết.
Kết quả được chia thành ba nhóm. Vùng màu xanh: nơi các nguồn dữ liệu đều thống nhất về hiện trạng rừng hoặc không phải rừng. Vùng màu vàng: nơi có sai khác nhỏ về ranh giới hoặc hiện trạng. Vùng màu đỏ: khu vực có sai khác lớn giữa dữ liệu của Việt Nam và quốc tế. Chẳng hạn, Việt Nam xác định là vùng cà phê nhưng dữ liệu quốc tế lại xác định là rừng hoặc ngược lại. Các địa phương sẽ kiểm tra các khu vực này thông qua hồ sơ, bản đồ và khảo sát trực tiếp ngoài thực địa trước khi gửi kết quả về cơ quan xây dựng bản đồ để hoàn thiện.
Song song với bản đồ rừng, TS Trương Tất Đơ cho rằng các ngành hàng như cà phê, cao su cần xây dựng bản đồ vùng trồng thay vì chỉ xây dựng cơ sở dữ liệu. Khi chồng ghép bản đồ vùng trồng với bản đồ rừng sẽ hình thành ba nhóm khu vực. Vùng xanh: khu vực hoàn toàn an toàn, không nằm trong hoặc gần rừng. Vùng vàng: khu vực giáp ranh, có nguy cơ cần theo dõi. Vùng đỏ: khu vực có nguy cơ cao hoặc chồng lấn với rừng, cần được kiểm tra kỹ trước khi xuất khẩu.
“Doanh nghiệp có trách nhiệm tuân thủ EUDR, nhưng nếu không có sự hỗ trợ từ Nhà nước trong việc xây dựng bản đồ rừng, bản đồ vùng trồng và hệ thống dữ liệu thì doanh nghiệp khó có thể tự thực hiện”, TS Trương Tất Đơ nêu quan điểm; đồng thời nhấn mạnh, khi xây dựng được hệ thống dữ liệu đồng bộ, cơ quan quản lý sẽ quản lý ngành hàng hiệu quả hơn và doanh nghiệp cũng được hưởng lợi khi có công cụ xác định sớm mức độ rủi ro, chuẩn bị hồ sơ chứng minh nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.
Ông Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng) cho biết, Đắk Nông (cũ) từng là một trong những địa phương tiên phong xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng với mục tiêu quản lý toàn diện hoạt động sản xuất trên nền tảng số. Dù việc triển khai sau đó bị gián đoạn do sáp nhập tỉnh, mô hình này vẫn được nhiều địa phương tham khảo.
Vấn đề của ngành nông nghiệp hiện nay không phải thiếu dữ liệu mà là dữ liệu đang phân tán, thiếu liên thông và chưa được kiểm chứng. Hiện nay, dữ liệu tồn tại ở ba nhóm chính, gồm: doanh nghiệp, nông hộ - hợp tác xã và cơ quan quản lý nhà nước. Mỗi doanh nghiệp xây dựng cơ sở dữ liệu theo mục tiêu và nền tảng riêng nên rất khó chia sẻ, tích hợp. Trong khi đó, nông dân là những người nắm rõ nhất tình trạng sản xuất nhưng nguồn dữ liệu này chưa được số hóa đầy đủ. Còn dữ liệu của cơ quan quản lý chủ yếu được tổng hợp theo hệ thống báo cáo hành chính từ cơ sở lên, thiếu cơ chế cập nhật và kiểm chứng thường xuyên.
Chỉ ra sự nhầm lẫn kéo dài giữa mã số vùng trồng và cơ sở dữ liệu vùng trồng, ông Phạm Tuấn Anh cho biết mã số vùng trồng chỉ đóng vai trò định danh một vùng sản xuất với các thông tin cơ bản như chủ hộ, loại cây trồng và diện tích, phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của một số thị trường. Trong khi đó, cơ sở dữ liệu vùng trồng là hệ thống dữ liệu toàn diện, liên tục được cập nhật, bao gồm cả bản đồ từng lô đất trồng, phản ánh đầy đủ hiện trạng sản xuất và phải bảo đảm tính chính xác, minh bạch.
Do đó, việc chỉ quản lý bằng mã số vùng trồng sẽ tạo ra “vùng mù” trong quản trị. Đơn cử, tại Đắk Nông (cũ), diện tích sầu riêng được cấp mã số vùng trồng mới chiếm khoảng 29%, đồng nghĩa với phần lớn diện tích còn lại chưa được quản lý đầy đủ trên nền tảng dữ liệu. Điều này khiến cơ quan quản lý khó xác định diện tích đất có liên quan đến chuyển đổi đất rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hoặc các yếu tố phục vụ truy xuất nguồn gốc theo yêu cầu của thị trường.
Ông Phạm Tuấn Anh nhấn mạnh, nếu xây dựng được cơ sở dữ liệu vùng trồng đồng bộ, với đầy đủ từ diện tích từng mảnh đất, bản đồ hình dạng tửng lô đất, đến các số liệu về cây trồng trên nền tảng số, cơ quan quản lý sẽ có thể nhanh chóng trả lời những câu hỏi về sản lượng, chất lượng, vị trí vùng nguyên liệu, diện tích thiếu nước, thời điểm thu hoạch, thị trường tiêu thụ hay doanh nghiệp tham gia thu mua. Đây cũng là công cụ hỗ trợ kết nối doanh nghiệp với vùng nguyên liệu, thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả quản trị ngành nông nghiệp.
Sự thiếu đồng bộ trong quy định pháp luật, biến động cước phí vận tải cùng những bất cập về cơ chế giá đang đặt ra thách thức lớn cho cộng đồng doanh nghiệp. Khẩn trương rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính và tạo hành lang pháp lý minh bạch là giải pháp then chốt để giải phóng nguồn lực cho ngành công thương...
Từ ngày 19/8/2029, các quy định mới của EU về tên gọi thịt và sản phẩm thịt sẽ chính thức được áp dụng. Quy định không chỉ tác động đến doanh nghiệp thực phẩm tại châu Âu mà còn đặt ra yêu cầu rà soát đối với hàng hóa nhập khẩu, trong đó có thực phẩm chay, vegan, plant-based và các sản phẩm thay thế thịt của Việt Nam...
Mưa lớn những ngày qua gây ngập lụt, sạt lở tại nhiều địa phương từ Bắc Trung Bộ đến miền Trung, làm hơn 1.000 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại, 53 điểm giao thông sạt lở và nhiều tuyến đường bị ngập, ách tắc...
Những sản vật gắn liền với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước cơ hội lớn để bước ra thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, để chuyển hóa từ lợi thế bản địa thành thương hiệu quốc tế, các doanh nghiệp và hợp tác xã không chỉ cần sản phẩm ngon, mà phải chuẩn hóa quy trình, thay đổi tư duy sản xuất và tận dụng hiệu quả các chính sách bệ phóng...
Xây dựng Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh là bước chuyển quan trọng trong nỗ lực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập.
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang ngày càng tác động đến cách du khách lựa chọn điểm đến. Đây được xem là dư địa để Việt Nam phát triển du lịch wellness, kết hợp nghỉ dưỡng, trị liệu, dinh dưỡng và trải nghiệm thiên nhiên.