14:11 20/03/2023

Thách thức trong giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Nhật Dương

Kết quả giảm nghèo vẫn chưa thực sự bền vững khi tỷ lệ hộ nghèo giảm không đồng đều trong các vùng của cả nước; trong đó “lõi nghèo” tập trung nhiều ở khu vực các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, Tây Nguyên…

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 9,88% năm 2015 xuống còn dưới 3%, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên về đích sớm trong thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc về giảm nghèo. Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022- 2025 cũng tho thấy, cả nước còn hơn 1,9 triệu hộ nghèo và hộ cận nghèo đa chiều, chiếm 7,52%.

TỶ LỆ HỘ NGHÈO GIẢM KHÔNG ĐỒNG ĐỀU Ở CÁC VÙNG

Theo báo cáo tổng kết công tác giảm nghèo năm 2022 của Văn phòng Quốc gia giảm nghèo, trong năm 2022, mặc dù chịu tác động của tình hình kinh tế, chính trị của thế giới, ảnh hưởng bởi đại dịch Covid -19, năm 2022, ngân sách nhà nước đã ưu tiên bố trí khoảng 23.000 tỷ để thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ giảm nghèo chung về hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm; về giáo dục và đào tạo; về y tế; về nhà ở…

Hệ thống cơ chế, chính sách giảm nghèo ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Đời sống của người nghèo từng bước được cải thiện, nâng cao, an sinh xã hội luôn được đảm bảo; hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn không ngừng được tăng cường, khoảng cách phát triển giữa các vùng đang từng bước được thu hẹp.

Mặc dù ghi nhận nhiều nỗ lực trong công tác giảm nghèo nhưng công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nước ta vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

TS. Bùi Sỹ Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội (nay là Ủy ban Xã hội) nhìn nhận, công tác giảm nghèo còn tồn tại một số hạn chế ở các phương diện nguồn lực, hệ thống chính sách, việc tổ chức thực hiện tại địa phương, công tác đào tạo…

Trong đó phải kể đến kết quả giảm nghèo chưa bền vững, số hộ thoát nghèo chủ yếu chuyển sang hộ cận nghèo; tỷ lệ hộ nghèo giảm không đồng đều trong các vùng của cả nước.

Đáng chú ý, tình trạng nghèo sâu, nghèo kinh niên tập trung vào đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn, chủ yếu ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, trong đó “lõi nghèo” tập trung nhiều ở khu vực các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, nhất là khu vực miền núi Tây Bắc. Đây là nhóm dân cư có tốc độ giảm nghèo chậm, luôn đứng trước nguy cơ tái nghèo.

Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho công tác giảm nghèo dàn trải trong nhiều chính sách, có chính sách khi bố trí được nguồn lực đầu tư đã vào năm cuối của giai đoạn thực hiện. Các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hỗ trợ thị trường phù hợp đặc điểm vùng, miền, nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh tại địa bàn khó khăn, địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số chưa mang lại hiệu quả như kỳ vọng…

Mặt khác, hệ thống chính sách về giảm nghèo vẫn phức tạp, nhiều tầng nấc, khó khăn trong việc tiếp cận của người dân. Việc rà soát, tích hợp, sửa đổi, ban hành chính sách về giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, gây ảnh hưởng đến quá trình triển khai thời gian đầu của chương trình…

HUY ĐỘNG THÊM NGUỒN LỰC CHO CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO

Trước những thực tế như vậy, ông Lợi cho rằng, cần đánh giá các chương trình, chính sách giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011 - 2020 theo các tiêu chí như: Tính kịp thời trong việc hoàn thiện, ban hành cơ chế, chính sách; tính phù hợp của cơ chế, chính sách, dự án đã ban hành trong triển khai thực hiện mục tiêu giảm nghèo về đối tượng thụ hưởng, đặc điểm vùng, miền; tính phù hợp với nguồn lực và năng lực thực thi của các địa phương.

Bên cạnh đó, cần đánh giá đến tính đồng bộ và hệ thống của cơ chế, chính sách và giải pháp giảm nghèo; tính đầy đủ thể hiện ở mức độ bố trí nguồn lực, bảo đảm đầy đủ và kịp thời nguồn lực cho thực hiện các dự án, chính sách trong chương trình giảm nghèo; tính hiệu lực và hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Lê Bình, Phó Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, năm 2023, đơn vị này sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách giảm nghèo, đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, phối hợp tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo thường xuyên năm 2023.

Bên cạnh đó, Văn phòng sẽ tiếp tục nâng cao năng lực và kiểm tra, giám sát thực hiện giảm nghèo và huy động thêm nguồn lực cho công tác giảm nghèo, thông qua đó hướng tới mục tiêu tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước bình quân duy trì mức giảm 1 – 1,5%/năm; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số mỗi năm giảm trên 3%; tỷ lệ nghèo đa chiều của các huyện nghèo giảm khoảng 4%.

Liên quan đến vấn đề này, tại cuộc họp tổng kết của Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo hồi tháng 1, Thứ trưởng Lê Văn Thanh cũng yêu cầu Văn phòng tiếp tục tham mưu cho Ban chỉ đạo Trung ương về giảm nghèo bền vững để rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, đảm bảo tính khả thi, để các địa phương có thể dễ dàng triển khai.

Ngoài ra Văn phòng cần có những biện pháp cụ thể, rà soát, đôn đốc các địa phương có kế hoạch giải ngân đúng kỳ hạn nguồn kinh phí được giao phục vụ giảm nghèo để đảm bảo hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu giảm nghèo đã đặt ra.