
Cao su là một trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ lực hiếm hoi của Việt Nam thời bao cấp. Thời hội nhập, cao su vẫn là con bài chủ lực của xuất khẩu nước ta.
Những năm 2010 - 2012, nhờ mở rộng việc trồng cùng quy trình chăm sóc mới, với 70% diện tích khai thác, cây cao su vẫn giữ được vị thế, cung ứng khoảng 8,1% tổng sản lượng cao su thiên nhiên thế giới, đưa Việt Nam đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cao su, chỉ sau Thái Lan và Indonesia...
Xuất khẩu cao su nhảy vọt trong năm 2006, đạt 1,273 tỷ USD trong khi năm 2005 là 804 triệu USD. Mốc này tạo hai dấu ấn: (1) Lần đầu tiên vượt ngưỡng 1 tỷ USD; (2) Mức tăng kỷ lục là 58,3% so với năm 2005, cao nhất trong tổng số 20 mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Từ đấy xuất khẩu cao su liên tục tăng vượt mốc 2 tỷ USD, lên đỉnh 3 tỷ USD vào năm 211.
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam, năm 2018 mua tới 65,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cao su của nước ta; thứ hai là Ấn Độ là 7%, rồi tiếp theo mới là Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ....
Sau khi hết chu kì lấy mủ, thân cây cao su thường làm củi hoặc vứt bỏ. Gỗ cao su thuộc vào nhóm 7, tỷ trọng nhẹ, sức chống kém, dễ bị mục, bị mối tấn công, nên chẳng mấy ai quan tâm.
Cho đến những năm 2000, khi tiến bộ khoa học được áp dụng xử lý gỗ bằng công nghệ tiên tiến, thì gỗ cao su được để mắt tới. Đồ gỗ làm từ gỗ cao su nay đã bền lại hợp sinh thái cùng độ thẩm mỹ bắt mắt đã nổi lên, trong khi gỗ cao cấp ngày càng hiếm, giá cao, làm ra đồ gỗ giá càng chát.
Mỗi năm, ngành chế biến gỗ sử dụng khoảng 4,5 - 5 triệu m3 gỗ cao su nguyên liệu, đem lại 1,7-1,8 tỷ USD, chiếm trên 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành đồ gỗ Việt Nam...
Những năm gần đây, sản phẩm từ cao su như dụng cụ y tế, vật dụng thí nghiệm, săm lốp ôtô, ruylô, băng tải... ngày càng dồi dào, chất lượng tiến bộ, xuất khẩu đều tăng.
Nếu năm 2016 xuất khẩu sản phẩm cao su đạt 482,8 triệu USD tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước (2015); thì cặp số tương tự của năm 2017 là 596,8 triệu USD và 23,6%; 2018 là 711 triệu USD và 19,1%; 6 tháng 2019 là: 333 triệu USD và 8,8%.
Việc xuất khẩu sản phẩm cao su như mũi tên trúng nhiều đích: gia tăng giá trị cao su nguyên liệu - hạn chế nhập khẩu loại tương tự - thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ nước nhà.
Trong khi hai mặt hàng phụ dính dáng đến cao su ngày càng sáng giá, thì mủ cao su – mặt hàng chính làm nên tên tuổi của ngành cao su, từng được gọi là vàng trắng, lại đang lập cập.
Cao su xuất khẩu của Việt Nam có tới 60% là cao su tự nhiên đã định chuẩn về kỹ thuật và cao su tự nhiên dạng nguyên thủy. Dù cũng được quan tâm đầu tư trong mấy năm gần đây, nhưng với quy mô gia công nhỏ, năng suất khiêm tốn; vì vậy, những mặt hàng thị trường cần, giá cao như cao su ly tâm, SVR 10, 20... thì ít, còn loại SVR 3L giá thấp, thị trường thế giới cần ít, chỉ Trung Quốc có nhu cầu nên nhập khẩu nhiều loại phẩm cấp này.
Cao su Việt Nam hầu như không có thương hiệu nên luôn phải bán với giá thấp hơn so với các nước khác. Những bất cập đó đã lý giải tình trạng cao su nói chung và phụ thuộc vào thị trường đại lục Trung Quốc nói riêng.
Xuất khẩu cao su vào thị trường này sau những tháng ngày hoàng kim bắt đầu chững lại. Từ 2015, kim ngạch quay về mốc 1 tỷ USD (2015: 1,5 tỷ USD), ì ạch tới 2017 mới lên lại mốc 2 tỷ USD. Tuy 2018 duy trì mốc đó song thực ra là kim ngạch giảm 7% so với năm 2017 trong khi số lượng tăng 14,5%, tụt xuống thứ 6/9 mặt hàng nhóm nông lâm thủy sản.
Bước vào 2019, tình hình tới chưa thể cải thiện do những biến động về địa chính trị trên toàn cầu; cạnh tranh gay gắt, các rào cản bảo hộ mới xuất hiện. Trên thị trường cao su thế giới cung vẫn vượt cầu, giá thì đỏng đảnh.
Năm 2011 đạt đỉnh 4.000 USD/tấn, xuống đáy 1.333 USD/tấn vào năm 2016, sau đó dù đã quay đầu tăng rồi đi ngang cho đến nay, song vẫn thấp hơn giá hồi đầu năm 2018. Các yếu tố đó lại tác động đến xuất khẩu cao su 6 tháng 2019, mới đạt 822 triệu USD, khiến dự báo giữ được mốc 2 tỷ USD trong 2019 dè dặt.
Là nước xuất khẩu cao su thứ tư thế giới, song không làm cho cán cân thương mại về cao su đẹp. Năm 2018, khi xuất khẩu cao su và sản phẩm từ cao su được 2,8 tỷ USD thì phải nhập khẩu cao su và sản phẩm cao su gần 2 tỷ USD. Cặp số tương tự của 6 tháng 2019, là xuất khẩu 1,184 tỷ USD và nhập khẩu 996 triệu USD.
Điều ấy nói lên việc sản xuất và xuất khẩu cao su và sản phẩm từ cao su vẫn chưa nhiều, lôi cuốn khách ngoại và cả với người Việt dù nặng lòng với hàng Việt.




Tập huấn, nâng cao năng lực thương mại điện tử được xem là bước đi chiến lược giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh nắm bắt quy định pháp luật mới, tối ưu hóa kênh bán hàng trực tuyến và bứt phá năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm đặc sản OCOP, làng nghề truyền thống...
Việt Nam đang đẩy mạnh hoàn thiện chính sách và khung kỹ thuật nhằm thúc đẩy chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Với sự hỗ trợ của Chính phủ Đức, dự án NDC-TIA II sẽ góp phần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy điện khí hóa phương tiện và phát triển hệ sinh thái giao thông phát thải thấp...
Các quy định mới tại Nghị định 278/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tạo ra một hành lang pháp lý chặt chẽ, giúp việc điều chỉnh giá điện diễn ra linh hoạt theo tín hiệu thị trường nhưng vẫn dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước…
Trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 86,5 tỷ USD, khẳng định Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam…
Giữa bối cảnh thị trường năng lượng thế giới nhiều biến động, Petrovietnam vẫn duy trì đà tăng trưởng về sản xuất, kinh doanh và đầu tư, tạo động lực phát triển mới. Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc, kết quả này khẳng định vai trò của Tập đoàn trong ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và giữ vững an ninh năng lượng quốc gia.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.