Tuy nhiên, việc sản xuất chưa gắn với liên kết chuỗi giá trị, tỷ lệ nguyên liệu được đưa vào chế biến còn thấp, sản phẩm chủ yếu ở dạng thô, dẫn tới hiệu quả kinh tế chưa cao và diện tích rừng luồng ngày càng bị thoái hóa.
Mặc dù chiếm diện tích lớn, song hoạt động sản xuất, tiêu thụ luồng tại Thanh Hóa vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng. Các nhà máy chế biến chưa gắn kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu. Tỷ lệ nguyên liệu được các cơ sở đưa vào chế biến mới ước đạt khoảng 40%, phần lớn tiêu thụ ở dạng thô hoặc sơ chế, khiến giá trị sản xuất thấp, đồng thời gây lãng phí tài nguyên, gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Do nguồn lợi từ khai thác trước mắt, nhiều hộ dân vẫn chặt luồng tự phát, khai thác cả cây non (tuổi 1–2) vốn là giai đoạn sinh măng, làm giảm số lượng luồng/bụi và suy yếu chất lượng rừng. Bình quân, thu nhập từ luồng chỉ đạt 7–9 triệu đồng/ha/năm. Cường độ khai thác quá mức khiến khoảng 46,2% diện tích rừng luồng toàn tỉnh đã và đang trong tình trạng thoái hóa.
Trước thực trạng trên, ngành nông nghiệp Thanh Hóa đã triển khai các giải pháp để nâng cao giá trị và phát triển cây luồng bền vững. Ông Cao Văn Cường, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết thời gian qua đơn vị phối hợp với các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp xây dựng mô hình phát triển tre luồng theo chuỗi giá trị để nhân rộng.
Ngành tiếp tục tổ chức thực hiện chính sách phục tráng rừng luồng, phát triển vùng thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng, thúc đẩy việc cấp chứng chỉ rừng FSC, gắn sản xuất với chế biến và xuất khẩu. Các địa phương đã có kế hoạch tổ chức sản xuất theo chuỗi, từ trồng rừng, thu mua, chế biến đến tiêu thụ, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm.
Tỉnh Thanh Hóa đưa ra chính sách hỗ trợ kinh phí mua phân bón trong 2 năm đầu thâm canh, phục tráng rừng luồng với mức 2 triệu đồng/ha/năm. Song song đó, nhiều địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững gắn với chế biến và xây dựng thương hiệu sản phẩm. Hệ thống giao thông vào vùng nguyên liệu được đầu tư, tạo thuận lợi cho thu hoạch và vận chuyển.
Nhờ chính sách hỗ trợ, ý thức người dân về trồng, chăm sóc, khai thác luồng đã thay đổi. Ông Vi Hồng Nghị, xã Đồng Lương chia sẻ, gia đình ông có 6 ha rừng luồng đạt chuẩn FSC. Khi tham gia vào chuỗi sản xuất, ông được hỗ trợ mua giống, hướng dẫn kỹ thuật trồng, bón phân và chăm sóc. Trước kia trồng tự do, chưa chú trọng giống và kỹ thuật, hiệu quả thấp và giá bấp bênh. Sau khi chuyển sang mô hình chuẩn, thu nhập của gia đình tăng lên khoảng 30 triệu đồng/ha/năm.
CHẾ BIẾN SÂU, ĐA DẠNG SẢN PHẨM, MỞ RỘNG KÊNH TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG
Trên địa bàn miền núi Thanh Hóa hiện có gần 60 cơ sở chế biến tre, luồng. Trước đây, 55% sản lượng tre luồng được tiêu thụ qua cơ sở nhỏ lẻ trong tỉnh, sản xuất chủ yếu các sản phẩm thô như tăm đũa, vàng mã, hoặc đưa đi sơ chế ở tỉnh ngoài.
Hiện nay, nhiều cơ sở đã chuyển sang chế biến sâu, đầu tư công nghệ và máy móc hiện đại như cắt, chẻ, vót, ép, hấp sấy, xử lý chống mối mọt. Nhờ đó, sản phẩm tre luồng ngày càng đa dạng, từ ống hút, dao muỗng, bàn chải, hộp đựng, khay trang trí đến bàn ghế, nội thất cao cấp. Các sản phẩm có thiết kế hiện đại, mẫu mã tinh tế, bền đẹp và thân thiện với môi trường, đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường trong nước và quốc tế.
Anh Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Công ty TNHH Bamboo Vina, cho biết “người thợ lựa chọn kỹ nguyên liệu, xử lý, bào mịn, ép tạo hình và hoàn thiện để cho ra sản phẩm vừa tinh tế vừa an toàn. Chính sự kết hợp giữa chất liệu tự nhiên, tay nghề thủ công và công nghệ hiện đại đã tạo nên sức hút cho sản phẩm tre luồng Thanh Hóa”.
Lợi thế của các cơ sở sản xuất trong tỉnh là gần vùng nguyên liệu, tiết kiệm chi phí vận chuyển và đảm bảo nguồn cung ổn định. Lực lượng lao động địa phương có kinh nghiệm đan lát truyền thống cũng góp phần giữ được tính thủ công tinh xảo trong từng sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp đã chủ động đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử như: Shopee, Lazada, Alibaba, Amazon, mở rộng kênh tiếp cận thị trường.
Đáng chú ý, có nhiều sản phẩm tre, luồng Thanh Hóa đã vươn ra thị trường quốc tế, đặc biệt tại châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Điển hình như Công ty TNHH Vibabo hiện ký hợp đồng dài hạn cung cấp ống hút tre, bộ đồ ăn tre, nội thất tre ép cho đối tác nước ngoài, với đơn đặt hàng hàng chục triệu ống hút mỗi năm, doanh thu đạt 3–4 tỷ đồng/năm.
Các sản phẩm đạt chứng chỉ FSC, ISO, chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn xuất khẩu châu Âu (CE). Cùng với đó, Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) giúp nhiều sản phẩm tre luồng đạt chuẩn 3 sao, 4 sao, thuận lợi tiếp cận thị trường rộng hơn.
Ông Lê Xuân Lâm, Giám đốc Công ty TNHH Vibabo, chia sẻ: “Không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, sản xuất sản phẩm tre luồng còn góp phần bảo vệ môi trường. Với đặc tính phân hủy sinh học, thay thế sản phẩm nhựa dùng một lần, tre luồng ngày càng được người tiêu dùng quốc tế lựa chọn”.
Ngành công nghiệp tre luồng cũng giúp giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương, đặc biệt là phụ nữ vùng sâu, vùng xa. Công ty Vibabo hiện tạo việc làm ổn định cho gần 30 lao động, thu nhập khoảng 100 triệu đồng/người/năm.
Bình quân mỗi năm, Thanh Hóa cung cấp khoảng 60 triệu cây luồng (tương đương 1,6 triệu tấn nguyên liệu) và 80.000 tấn nguyên liệu khác phục vụ chế biến, xuất khẩu. Đây là nguồn lực dồi dào để phát triển ngành hàng tre luồng bền vững, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hiện nay, thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ tre luồng của tỉnh Thanh Hóa tập trung chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, châu Âu, Bắc Mỹ… Thanh Hóa phấn đấu đến năm 2025 có 85% sản phẩm từ tre, luồng tiêu thụ trong nước, 15% xuất khẩu và đến năm 2030 có 75% sản phẩm từ tre, luồng tiêu thụ trong nước, 25% xuất khẩu.
Để phát huy thế mạnh, tỉnh Thanh Hoá xác định cần tăng cường phục tráng rừng, mở rộng diện tích thâm canh, đẩy mạnh liên kết chuỗi giá trị và gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến với thị trường. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, đưa sản phẩm vươn xa, gia tăng giá trị và nâng cao thu nhập cho người trồng rừng.
Yêu cầu các sở, ngành tăng cường công tác bảo vệ môi trường tại các làng nghề, cụm công nghiệp; kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, tái phạm nhiều lần...
Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 29/2023/QĐ-TTg ngày 19/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên và hoạt động chỉ định tổ chức giám định...
Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Nhà nước Rosatom vừa hoàn tất cung cấp nhiên liệu hạt nhân mới cho lò phản ứng số 1 của nhà máy điện nhiệt hạt nhân nổi Akademik Lomonosov tại Chukotka, đánh dấu bước tiếp theo trong quá trình vận hành mô hình lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) dạng nổi đầu tiên của Nga…
Khi các con sông châu Âu rút xuống trong những đợt hạn hán, những dấu tích lịch sử vốn nằm dưới nước hàng thế kỷ lại xuất hiện. Trong số đó có những “hòn đá đói” với những dòng chữ u ám, từng ghi lại các thời kỳ mực nước xuống thấp, mùa màng thất bát, thương mại đình trệ và nạn đói…
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 235/NQ-CP phê duyệt Thỏa thuận thực hiện theo Điều 6 Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Singapore...
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Giữa không gian biển xanh và núi Linh Trường, Khu nghỉ dưỡng Eureka Linh Trường Resort tại xã Hoằng Tiến, tỉnh Thanh Hóa mang đến một kỳ nghỉ kết hợp giữa nghỉ dưỡng, trải nghiệm thiên nhiên và chăm sóc sức khỏe. Không chỉ là nơi lưu trú ven biển, khu nghỉ dưỡng đang hướng tới một hành trình để du khách thư giãn, tái tạo năng lượng và tìm lại sự cân bằng sau những ngày bận rộn.