Cả nước hiện có khoảng 17.400 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên. Trong đó, có 2.169 hợp tác xã nông nghiệp có các sản phẩm OCOP, chiếm 37,9% số chủ thể sản phẩm OCOP được công nhận.
Tại Hội nghị tổng kết năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dành nhiều thời lượng để ghi nhận, đánh giá cao những kết quả mà Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đạt được trong năm 2025 và suốt giai đoạn 2021–2025, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phải tập trung sâu hơn vào chất lượng và chiều sâu phát triển của chương trình trong thời gian tới.
Thủ tướng khẳng định: OCOP không chỉ là một chương trình hỗ trợ phát triển sản phẩm nông thôn, mà đã thực sự trở thành một chương trình mang tầm quốc gia, góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn và trở thành “niềm tự hào của chúng ta”.
Chia sẻ về quá trình hình thành và phát triển OCOP, Thủ tướng cho biết khi còn giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, ông đã dành nhiều tâm huyết cho chương trình này.
“Trước đây, tôi có dịp đi học tập, nghiên cứu mô hình này tại Nhật Bản, sau đó là Hàn Quốc. Trên cơ sở đó, chúng ta đã xây dựng thí điểm mô hình OCOP tại Quảng Ninh. Đến năm 2017, từ kinh nghiệm thực tiễn của Quảng Ninh, chúng ta đã tổng kết, rút kinh nghiệm và phát triển chương trình OCOP ra phạm vi toàn quốc. Vì vậy, đối với OCOP, trong suy nghĩ của tôi luôn có rất rõ những việc cần làm”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Theo Thủ tướng, OCOP đã tạo ra những thay đổi rõ rệt trong cách tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm và tiếp cận thị trường của khu vực nông thôn. Mỗi khi đến các địa phương, ông đều thấy các sản phẩm OCOP được trưng bày, giới thiệu rất phong phú, đa dạng.
Tuy nhiên, Thủ tướng cũng nhấn mạnh rằng OCOP không thể dừng lại ở việc trưng bày, giới thiệu sản phẩm, mà cần được tiếp tục nâng cấp về chất lượng, tổ chức sản xuất và thị trường để phát triển bền vững và thực chất hơn. “Chúng ta phải tiếp tục nâng cấp chương trình OCOP, tiếp tục đầu tư bài bản hơn, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ để OCOP phát triển bền vững, hiệu quả và thực chất hơn nữa”, Thủ tướng nêu rõ.
“OCOP đã góp phần quan trọng trong việc làm mới sản phẩm nông thôn, nâng cao giá trị gia tăng và mở ra hướng đi mới cho kinh tế nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, để chương trình thực sự bền vững, OCOP phải chuyển từ “nhiều về lượng” sang “sâu về chất”, từ phong trào sang chiều sâu kinh tế. OCOP đã là niềm tự hào, nhưng niềm tự hào đó phải được nuôi dưỡng bằng chất lượng, bằng thương hiệu, bằng thị trường và bằng sự phát triển bền vững”.
Để OCOP tiếp tục phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả cao hơn, Thủ tướng đã đưa ra 5 nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất: Xây dựng thương hiệu. Thủ tướng nhấn mạnh: “Không có thương hiệu thì làm gì cũng rất khó. Có những sản phẩm chất lượng, nguyên liệu, tiêu chuẩn gần như nhau, nhưng có thương hiệu thì giá bán có thể cao gấp nhiều lần so với sản phẩm không có thương hiệu”.
Thủ tướng cho biết thực tế này thể hiện rất rõ ở nhiều ngành, kể cả ngành dệt may: cùng một nguyên phụ liệu, cùng quy trình sản xuất, nhưng nếu không có thương hiệu thì giá trị sản phẩm chỉ bằng khoảng 10% so với sản phẩm mang thương hiệu.
Thứ hai: Phải có vùng nguyên liệu và quy hoạch vùng nguyên liệu ổn định, bởi không có vùng nguyên liệu thì không thể phát triển bền vững.
Thứ ba: Vai trò của doanh nghiệp và các tổ chức liên kết. Theo Thủ tướng, cần có doanh nghiệp hoặc tổ chức đứng ra mang giống, vật tư, công nghệ đến cho nông dân, tổ chức sản xuất, bao tiêu sản phẩm và đưa sản phẩm ra thị trường. Người nông dân không thể một mình làm tất cả các khâu này.
Thứ tư: Ứng dụng khoa học công nghệ, từ thiết kế mẫu mã, bao bì đến truy xuất nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa đầy đủ, minh bạch.
Thứ năm: Vai trò của hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành, hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn và nông dân thông qua các cơ chế tín dụng phù hợp.
Thủ tướng đề nghị các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục quan tâm, hỗ trợ và chủ động hơn trong việc phát triển OCOP, để chương trình không chỉ lan tỏa về mặt hình thức mà thực sự trở thành trụ cột thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn mới.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, công tác phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị và ngành nghề nông thôn đã ghi nhận nhiều điểm đột phá, trong đó nổi bật là việc gắn ngành nghề nông thôn với xây dựng thương hiệu.
Trong năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức nhiều hoạt động, sự kiện quy mô quốc tế và quốc gia nhằm thúc đẩy lĩnh vực này. Tiêu biểu là Festival Bảo tồn và Phát triển Làng nghề quốc tế với sự tham gia của hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ; cùng các hoạt động sơ kết 6 năm thực hiện Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn và 3 năm thực hiện Quyết định số 801/QĐ-TTg về Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021–2030.
Cả nước hiện có khoảng 17.400 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên. Trong đó, có 2.169 hợp tác xã nông nghiệp có các sản phẩm OCOP, chiếm 37,9% số chủ thể sản phẩm OCOP được công nhận.
Đến nay, cả nước có 263 nghề truyền thống; 1.975 làng nghề được công nhận. Tuy nhiên, tỷ lệ làng nghề gắn với các trụ cột phát triển mới vẫn còn khiêm tốn: chỉ 247 làng nghề có sản phẩm đăng ký thương hiệu (12,51%); 360 làng có sản phẩm OCOP đạt sao (18,22%); 145 làng nghề có sản phẩm xuất khẩu (7,34%); và 185 làng nghề gắn với phát triển du lịch (9,37%). Thực tiễn cho thấy, các mô hình làng nghề hiện nay đang chuyển mạnh sang liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, hình thành các chuỗi giá trị nông thôn.
Bước vào giai đoạn tiếp theo, cùng với việc thực hiện các mục tiêu, chính sách và chương trình chung của ngành, công tác phát triển nông thôn, xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ và hướng dẫn triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí nông thôn mới các cấp, nhằm đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hiệu quả và bảo đảm tính đồng bộ trong triển khai giai đoạn 2026–2030.
Đặc biệt, các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP và phát triển du lịch nông thôn sẽ được ban hành và triển khai đồng bộ, gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2026–2035. Bộ tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cũng sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị, sức cạnh tranh và khả năng tham gia thị trường trong nước và quốc tế.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.