Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, dịch vụ logistics của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, đạt khoảng 14-16%; tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt khoảng 60-70%, đóng góp khoảng 4-5% GDP.
Theo bảng xếp hạng Agility 2022, thị trường logistics Việt Nam được xếp thứ 11 trong nhóm 50 thị trường logistics mới nổi toàn cầu. Việt Nam hiện là quốc gia đứng đầu trong các nước ASEAN về số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics được Cơ quan Quản lý hoạt động hàng hải của Mỹ (FMC) cấp phép. Hiện có hơn 40.000 doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực logistics.
Bên cạnh những kết quả đạt được, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho rằng, ngành logistics Việt Nam vẫn còn một số hạn chế khi chưa khai thác hết được lợi thế địa kinh tế và chưa tương xứng với tiềm năng của mỗi địa phương.
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động logistics cũng như sự kết nối giữa hạ tầng thương mại, hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ thông tin... trong nước và với khu vực còn yếu; chi phí dịch vụ còn cao; chất lượng một số dịch vụ có vấn đề trong điều kiện thị trường cung cấp dịch vụ của Việt Nam hiện nay đang diễn ra cạnh tranh gay gắt.
Theo đại diện Bộ Công Thương, nguyên nhân của tình trạng này chính là sự thiếu liên kết giữa các bên của chuỗi cung ứng và các bên liên quan của ngành, thể hiện qua tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics ở Việt Nam còn thấp so với các nước phát triển khác.
Mức độ chuyên nghiệp của ngành logistics chưa cao, chưa tạo được niềm tin cho đối tác. Tư duy của nhiều doanh nghiệp sản xuất, thương mại vẫn theo hướng tự làm khép kín mà chưa nhìn nhận được những ích lợi của việc thuê ngoài.
Trong khi đó, lợi ích mang lại từ việc thuê ngoài dịch vụ logistics rất lớn, giúp doanh nghiệp tập trung vào chuyên môn, lĩnh vực có thế mạnh của mình; giảm chi phí đầu tư, quản lý phương tiện, kho bãi, nhân sự; hoạt động logistics được xử lý bởi bàn tay chuyên nghiệp…
Ông Trần Đức Nghĩa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hà Nội, cho rằng hiện các doanh nghiệp, chủ hàng tuy đã có sự hợp tác với các đơn vị logistics nhưng chưa đi vào chiều sâu, vẫn theo kiểu thời vụ nên chưa tạo thành mạng lưới cung cấp hàng hóa và dịch vụ đến tận tay người tiêu dùng, làm giảm hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh hàng hóa giữa các bên.
Bà Trần Hoàng Yến, Phó Trưởng Văn phòng đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), cho biết ngành này đã xuất khẩu tới gần 170 thị trường, bao gồm những thị trường lớn và khó tính nhất. Năm 2022, lần đầu tiên xuất khẩu thủy sản đạt 11 tỷ USD.
Do đó, vai trò của logistics (kho đông lạnh, vận tải đường bộ nội địa, vận chuyển xuất nhập khẩu đường biển, các dịch vụ hồ sơ giấy tờ…) là vô cùng quan trọng trong chuỗi sản xuất-cung ứng-xuất nhập khẩu thủy sản đông lạnh. Logistics thường chiếm 6-7% giá thành sản phẩm thủy sản đông lạnh xuất nhập khẩu.
“Kho đông lạnh bảo quản đóng vai trò không thể thiếu trong quy trình sản xuất cung ứng thủy sản, đảm bảo chất lượng của sản phẩm. Điều kiện bảo quản của kho đông lạnh quyết định chất lượng sản phẩm thủy sản.
Tuy nhiên, tình trạng thiếu kho lạnh, nhất là khi cao điểm hoặc khi gặp khó khăn thị trường vẫn xảy ra. Doanh nghiệp thủy sản hầu hết đều phải đầu tư kho bảo quản đông lạnh để hoàn chỉnh quy trình. Nhưng công suất này thường chỉ đủ cho chính doanh nghiệp đó trong ít ngày sản xuất”, bà Yến nêu bất cập.
Kho bảo quản thương mại, dịch vụ hiện có phần lớn đều là các kho lạnh của nước ngoài, có dung tích lớn như: SWIRE Pacific, AJ, LOTTE, Preferred… Kho thương mại dịch vụ cho thủy sản đông lạnh xuất nhập khẩu chủ yếu nằm ở miền Nam; tại miền Bắc và miền Trung có rất ít các kho kiểu này, do vậy đã hạn chế phần nào hoạt động sản xuất, thương mại thủy sản. Ngoài ra, để xuất khẩu được sang EU, kho lạnh còn phải có EU Code, nhưng hiện tại chưa có kho nào được cấp.
Nhằm thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ logistics, ông Hải cho rằng trong thời gian tới, bên cạnh những giải pháp căn cơ đã và đang được thực hiện, thì giải pháp cần tập trung triển khai mạnh chính là củng cố, tăng cường các mối liên kết trong ngành.
Cụ thể, cần tăng cường thực hiện liên kết các vùng kinh tế, gồm liên kết liên vùng và nội vùng trong xây dựng hệ thống logistics. Hoàn thiện kết nối hạ tầng giao thông và trung tâm logistics phù hợp nhằm phát huy tối đa lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Đồng thời tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý, bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng, thực thi cơ chế chính sách về hoạt động logistics và các chính sách hỗ trợ khác.
"Để ngành logistics phát triển, cần có sự phối kết hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, giữa các cơ quan Trung ương và địa phương. Qua đó, tạo sự thống nhất, đồng bộ quan điểm quản lý, xây dựng và thực thi chính sách phát triển ngành cũng như xử lý các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp một cách nhanh chóng nhất", ông Hải đề xuất.
Sự phối hợp, liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp thông qua cầu nối là các hiệp hội có vai trò quan trọng. Vì vậy, cần tăng cường liên kết giữa các hiệp hội doanh nghiệp logistics và các hiệp hội ngành hàng, giữa các doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Đặc biệt, cần đẩy mạnh hợp tác giữa nhà trường - doanh nghiệp trong việc đào tạo và phát triển nhân lực phục vụ ngành logistics. Phát triển các chương trình đào tạo liên kết nhà trường và doanh nghiệp, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giúp phát triển đội ngũ nhân lực logistics chất lượng cao, tay nghề tốt, đáp ứng được nhu cầu thực tế công việc ngay khi ra trường.
"Việc tăng cường hợp tác, liên kết giữa các bên của chuỗi cung ứng, giữa các hiệp hội, doanh nghiệp là hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát và có thể thực hiện được. Điều quan trọng là cần có những doanh nghiệp, cá nhân có đủ tâm, đủ tầm, đủ nhiệt huyết, uy tín, tích cực đứng ra kết nối, từ đó có hợp tác lâu dài, giúp ngành dịch vụ logistics Việt Nam phát triển bền vững", ông Hải nhấn mạnh...
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 28-2023 phát hành ngày 10-07-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Bão số 1 đã suy yếu khi đi sâu vào đất liền Trung Quốc, tuy nhiên hoàn lưu sau bão tiếp tục gây mưa lớn trên diện rộng ở khu vực Bắc Bộ, làm gia tăng nguy cơ lũ trên các sông, ngập úng, lũ quét và sạt lở đất.
Trước nhu cầu điện dự báo tiếp tục tăng mạnh cùng tốc độ phát triển công nghiệp, Hà Tĩnh kiến nghị Bộ Công Thương xem xét bổ sung, điều chỉnh nhiều dự án nguồn và lưới điện trong Quy hoạch điện 8 điều chỉnh. Địa phương kỳ vọng việc hoàn thiện hạ tầng năng lượng sẽ tạo nền tảng thu hút đầu tư và bảo đảm an ninh năng lượng trong giai đoạn tới...
FDI không phải là mục tiêu của chính sách phát triển, mà là một trong nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế. Khi các nguồn lực quốc gia ngày càng hữu hạn, mọi chính sách ưu đãi, mọi quyết định phân bổ đất đai, hạ tầng, năng lượng hay dữ liệu đều cần hướng đến giá trị dài hạn mà nền kinh tế nhận được...
Sau gần 40 năm mở cửa, FDI vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế đã thay đổi và các nguồn lực phát triển ngày càng tiệm cận giới hạn, câu hỏi đặt ra lúc này là đã đến lúc nhìn nhận đúng vai trò của FDI trong chiến lược phát triển quốc gia...
Tháng 6/2026, TKV khai thác 3,3 triệu tấn than nguyên khai, nâng sản lượng 6 tháng lên 19,6 triệu tấn. Tuy nhiên, sang tháng 7, Tập đoàn chủ động giảm sản lượng khai thác và tiêu thụ do nhu cầu than cho điện thấp hơn khi bước vào mùa mưa...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.
Tăng trưởng kinh tế 8,18%, chưa đạt mục tiêu đề ra là 9,7%. Có 25/34 địa phương tăng trưởng thấp hơn mục tiêu. Cơ cấu thương mại còn nhiều rủi ro. Xuất khẩu tăng cao nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn… Đó là những thách thức được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Đặng Xuân Phong đề cập tại Họp báo Chính phủ thường kỳ vừa diễn ra tại Hà Nội.