Tín chỉ carbon rừng Việt Nam thu hút sự quan tâm lớn của các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài

Các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài đang có mối quan tâm rất lớn đến tín chỉ carbon rừng của Việt Nam. Các bên mua tiềm năng ưu tiên khối lượng khoảng 100-500 nghìn tấn carbon cho mỗi giao dịch, với mức giá dao động 5-15 USD. Đặc biệt, loại hình dự án được ưu tiên, ưa chuộng nhất là trồng rừng và phục hồi rừng; tăng cường và quản lý rừng, giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+), phục hồi và bảo tồn vùng đất ngập nước...

Khảo sát cho biết có 33% các bên mua được hỏi có mức độ quan tâm cao tín chỉ carbon rừng, là lĩnh vực ưu tiên và nhận thấy tiềm năng lớn từ Việt Nam. Ảnh minh họa
Khảo sát cho biết có 33% các bên mua được hỏi có mức độ quan tâm cao tín chỉ carbon rừng, là lĩnh vực ưu tiên và nhận thấy tiềm năng lớn từ Việt Nam. Ảnh minh họa

Đây là kết quả khảo sát các bên mua tiềm năng đối với tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam vừa được đơn vị tư vấn về biến đổi khí hậu South Pole (Thụy Sĩ) chia sẻ.

Theo bà Roxanne Tan, Chuyên gia Chính sách Khí hậu quốc tế, Tập đoàn South Pole, phân khúc thị trường cho tín chỉ carbon gồm: thị trường tuân thủ NDC, bù trừ ở phạm vi thị trường carbon trong nước ETS, tuân thủ Corsia và tín chỉ phục vụ cho mục tiêu tự nguyện.

Từ các phân khúc thị trường khác nhau sẽ có các bên mua tiềm năng khác nhau. Cụ thể, bên mua tiềm năng có 5 nhóm gồm: các tổ chức định chế tài chính, các quỹ đầu tư và ngân hàng; các công ty thực hiện giao dịch thương mại; các nhà bán lẻ tín chỉ và môi giới; các tập đoàn, doanh nghiệp và Chính phủ hoặc các cơ quan liên quan.

CÁC BÊN MUA QUAN TÂM, TÌM HIỂU TÍN CHỈ CARBON RỪNG VIỆT NAM

Khảo sát về mức độ quan tâm của các bên mua tiềm năng với tín chỉ carbon rừng Việt Nam cho thấy, các bên mua có đánh giá tích cực về thị trường carbon Việt Nam với mức độ quan tâm cao và cởi mở (mặc dù chưa tích cực) đối với tín chỉ carbon từ Việt Nam.

Cụ thể, có 13% bên tham gia cho biết đang tích cực tìm kiếm các cơ hội để mua tín chỉ carbon từ Việt Nam; 73% cho biết sẵn sàng xem xét mua tín chỉ carbon từ Việt Nam nếu tín chỉ đáp ứng được các yêu cầu đặt ra; 13% có quan tâm ở mức độ chung nhưng chưa chủ động xem xét thị trường Việt Nam ở thời điểm hiện tại.

Về mức độ quan tâm của các tổ chức đối với việc mua tín chỉ carbon rừng từ Việt Nam trong tương lai, khảo sát cho biết có 33% các bên mua được hỏi có mức độ quan tâm cao tín chỉ carbon rừng, là lĩnh vực ưu tiên và nhận thấy tiềm năng lớn từ Việt Nam. Cùng với đó, 40% sẵn sàng xem xét và tìm hiểu thêm về các cơ hội mua tín chỉ carbon rừng.

Bà Roxanne Tan, Chuyên gia Chính sách Khí hậu quốc tế, Tập đoàn South Pole chia sẻ kết quả khảo sát.
Bà Roxanne Tan, Chuyên gia Chính sách Khí hậu quốc tế, Tập đoàn South Pole chia sẻ kết quả khảo sát.

Khảo sát cho thấy các bên tham gia có mối quan tâm rất lớn đối với tín chỉ carbon của Việt Nam. Tuy nhiên, các dự án cần phù hợp với yêu cầu và ưu tiên của người mua, và sẽ phải trải qua các bước thẩm định trước khi ký kết hợp đồng.

South Pole cho hay các bên mua là khách hàng tiềm năng ưu tiên khối lượng khoảng 100-500 nghìn tấn carbon cho mỗi giao dịch, với mức giá dao động 5-15 USD được kỳ vọng nhất, dù nhiều bên mua không muốn tiết lộ giá kỳ vọng.

Theo khảo sát, về mức giá giao dịch điển hình (USD/tCO2tđ) đối với tín chỉ carbon rừng của các tổ chức hoặc mức giá các tổ chức tiềm năng mong muốn khi mua trong 2-3 năm qua, có tới 63% không muốn tiết lộ.

Kết quả khảo sát mức độ quan tâm tới tín chỉ carbon rừng Việt Nam
Kết quả khảo sát mức độ quan tâm tới tín chỉ carbon rừng Việt Nam

Điều này cho thấy, thông tin về giá vẫn khó tiếp cận đối với các bên thứ ba; nhiều bên mua không trả lời câu hỏi này, có khả năng do nhạy cảm thương mại hoặc ràng buộc hợp đồng. Tuy nhiên, mức giá giao dịch cần được xem xét cùng với các điều khoản và điều kiện của thỏa thuận mua bán, bởi mỗi giao dịch đều có những thỏa thuận riêng, trong đó rủi ro được phân bổ giữa bên mua và bên bán theo những cách thức và tỷ lệ khác nhau.

Về tiêu chuẩn carbon được các bên mua ưu tiên, chuộng nhất, bà Roxanne Tan thông tin, 3 tiêu chuẩn các bên chuộng nhất là Verra (VCS-32%), ART (27%) và Tiêu chuẩn Vàng (GS-22%). Các bên mua tìm kiếm tín chỉ theo các tiêu chuẩn quốc tế uy tín và phổ biến với các bên tham gia thị trường.

Đáng chú ý, loại hình dự án lâm nghiệp được quan tâm ưu tiên, ưa chuộng nhất là trồng rừng và phục hồi rừng (A/R). Kế đến là tăng cường và quản lý rừng (IFM), giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+), phục hồi và bảo tồn vùng đất ngập nước (WRC).

Nhìn chung, loại hình dự án hấp thụ được ưa chuộng hơn so với các hoạt động tạo như IFM, REDD+, hay WRC (giảm phát thải). Các hoạt động tạo tín chỉ carbon từ lĩnh vực lâm nghiệp đều được các bên mua đánh giá cao. Một số bên mua thích loại hình hấp thụ hơn loại hình giảm phát thải, nhưng lựa chọn còn phụ thuộc vào các yếu tố tiến độ giao tín chỉ, rủi ro dự án, mức giá,...

NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT ĐƯỢC CÁC BÊN QUAN TÂM 

Một trong những yếu tố tiên quyết trước khi tiến đến hoàn tất thỏa thuận đầu tư, thương mại mua bán tín chỉ carbon, các bên mua thường mong muốn dự án hoàn tất các quy trình chứng nhận carbon; có Thư chấp thuận theo Điều 6 trước.

Đại diện South Pole cho biết các bên mua tìm cách giảm thiểu rủi ro pháp lý (quy định thị trường carbon trong nước) và rủi ro của từng dự án. Do đó các bên ưu tiên tuân thủ quy định và mức độ hoàn thiện của dự án trước khi hoàn tất thỏa thuận mua tín chỉ carbon. Kịch bản lý tưởng với người mua là dự án đã có Thư chấp thuận theo Điều 6 (bao gồm việc tuân thủ CORSIA), đã ban hành tín chỉ thành công, hoàn tất quá trình chứng nhận,và đạt được sự đồng thuận của các bên liên quan.

Theo đại diện South Pole, những yếu tố này thường được xem như “điều kiện tiên quyết” trước khi hợp đồng hoặc một điều khoản trong hợp đồng trở nên có hiệu lực.

Các bên mua cũng có quan tâm nhất định đến lượng tín chỉ còn dư, thuộc Thỏa thuận Chi trả Giảm phát thải khí nhà kính (ERPA)
Các bên mua cũng có quan tâm nhất định đến lượng tín chỉ còn dư, thuộc Thỏa thuận Chi trả Giảm phát thải khí nhà kính (ERPA)

"Là thị trường carbon đang hình thành, Việt Nam có nhiều cơ hội lồng ghép các nhu cầu và tiêu chí từ các bên mua vào khuôn khổ thị trường carbon và Điều 6 (cơ chế hợp tác quốc tế của Hiệp định Paris về khí hậu)", đại diện South Pole nhận định.

"Trong bối cảnh các chính sách và quy định đang được xây dựng, việc tăng cường đối thoại với các bên tham gia thị trường gồm cả trong nước và quốc tế sẽ đóng vai trò quan trọng nhằm thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư toàn cầu và thúc đẩy nhận thức về tiềm năng của thị trường carbon tại Việt Nam”.

Ngoài các dự án phát hành tín chỉ carbon rừng trong tương lai ở Việt Nam, các bên mua cũng có quan tâm nhất định đến lượng tín chỉ còn dư, thuộc Thỏa thuận Chi trả Giảm phát thải khí nhà kính (ERPA) giữa Chính phủ Việt Nam và Quỹ Đối tác Carbon trong Lâm nghiệp (FCPF) của Ngân hàng Thế giới.

Trong khuôn khổ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA), Việt Nam đã tạo ra 16,2 triệu tCO₂tđ giảm phát thải giai đoạn 2018–2019, được thẩm định độc lập bởi Aster Global. Trong số này, có 10,3 triệu tCO₂tđ đã được giao dịch theo hợp đồng ERPA ban đầu và còn dư 5,9 triệu kết quả giảm phát thải.

Mới đây, thêm 1 triệu tCO₂tđ từ lượng dôi dư trên được Chính phủ cho phép chuyển nhượng bổ sung theo Nghị quyết 261/NQ-CP ngày 29/8/2025. Như vậy, sau khi thực hiện giao dịch bổ sung này, lượng kết quả giảm phát thải còn lại khoảng 4,9 triệu tCO₂tđ, có thể tiếp tục xem xét sử dụng cho các mục đích tiếp theo.

Cùng với đó, các chương trình như Giảm phát thải Tây Nguyên và Nam Trung Bộ dự kiến tạo ra khoảng 20 triệu tCO₂tđ giai đoạn 2021–2025 và đã lên kế hoạch chuyển nhượng 5,15 triệu tCO₂tđ cho Tổ chức Emergent.

Các chuyên gia WB cho rằng với lượng phát giảm phát thải còn lại, Việt Nam cần xem xét sử dụng như thế nào có lợi nhất cho các mục tiêu đã đặt ra và cam kết thực hiện. Theo đó, cần xác định những phương án sử dụng các kết quả giảm phát thải này bao gồm cả trao đổi và thương mại hóa hiệu quả những tín chỉ carbon từ rừng nhằm tối đa hóa lợi nhuận, lợi ích trong đó có lợi ích về tài chính cũng như đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam.

Khảo sát của South Pole cho biết 73% bên mua cho biết "có thể quan tâm" tới các tín chỉ này.

Còn theo kết quả khảo sát các địa phương tham gia ERPA, mong muốn của địa phương với lượng kết quả giảm phát thải còn dư, nhóm Tư vấn, VNEEC thông tin, ưu tiên hàng đầu (80%) là chuyển nhượng cho các cơ sở phát thải khí nhà kính lớn thông qua cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng; 60% ưu tiên cao sử dụng tín chỉ để bù trừ cho thị trường carbon trong nước hoặc bán cho WB.

Mức ưu tiên trung bình (40%) cho giao dịch theo cơ chế Điều 6 hoặc CORSIA; 20% ưu tiên giao dịch trên thị trường tự nguyện. Các địa phương cũng mong muốn mức giá bán tín chỉ carbon rừng từ 5 USD trở lên, trong đó, 40% địa phương mong muốn mức giá từ 16- 20 USD/tín chỉ.

Hà Nội: Lộ trình chuyển đổi sang khu, cụm công nghiệp sinh thái

Giai đoạn 2026 - 2028, Hà Nội sẽ rà soát, đánh giá các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động và xây dựng đề án chuyển đổi, đăng ký, chứng nhận khu, cụm công nghiệp sinh thái. Giai đoạn 2029 - 2045, triển khai đồng bộ các giải pháp theo đề án đã được phê duyệt; phấn đấu hoàn thành chuyển đổi các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động sang mô hình sinh thái vào năm 2045…

Hoàn thiện hành lang pháp lý phát triển thị trường carbon rừng Việt Nam

Chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng sẽ chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai các dự án carbon rừng và phát triển thị trường tín chỉ carbon. Để bảo đảm triển khai đồng bộ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư hướng dẫn phương pháp định giá carbon rừng, dự kiến ban hành trước ngày 15/7/2026...

Xe điện và cuộc tranh cãi về những bộ pin "bẩn"

Doanh số xe điện toàn cầu đang tăng mạnh, nhưng những tranh cãi về tác động môi trường và chuỗi cung ứng khoáng sản của pin xe điện cũng ngày càng gay gắt. Theo nhiều chuyên gia, một số chỉ trích nhằm vào pin xe điện chưa phản ánh đầy đủ những thay đổi đang diễn ra trong công nghệ sản xuất và chuỗi cung ứng của ngành...

Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam (nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam) trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng không chỉ ở tên gọi và số lượng các ấn phấm báo chí đã phát hành, mà còn được thể hiện ở tư duy bứt phá của những thế hệ lãnh đạo được giao nhiệm vụ thực hiện sứ mệnh phát triển “dòng thông tin kinh tế phục vụ công cuộc kiến tạo và phát triển đất nước”.

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy