Phiên họp Hội đồng Ủy hội sông Mekong quốc tế lần thứ 32 diễn ra ngày 26/11/2025, Hội đồng đã thông qua Kế hoạch Chiến lược của Ủy hội giai đoạn 2026 - 2030 và thống nhất các định hướng ưu tiên chiến lược đưa vào Tuyên bố chung Hội nghị Cấp cao Ủy hội sông Mekong quốc tế lần thứ 5.
Cụ thể, các hoạt động chiến lược của Ủy hội trong 5 năm tới tập trung vào các ưu tiên: tăng cường các hoạt động đem lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng người dân ven sông, lấy con người làm trung tâm; đẩy mạnh triển khai thực hiện các dự án có tính xuyên biên giới, đem lại lợi ích chung cho các quốc gia trên lưu vực.
Cùng với đó, tăng cường chia sẻ số liệu quy hoạch, vận hành và xây dựng các quy trình vận hành có phối hợp đối với các công trình khai thác, sử dụng nước lớn trên lưu vực; tăng cường áp dụng công nghệ hiện đại để đảm bảo cung cấp các dịch vụ phục vụ các quốc gia và người dân ven sông, đặc biệt dịch vụ về cảnh báo, dự báo, ứng phó thiên tai;
Xây dựng thể chế và năng lực cho Ủy hội và các quốc gia ven sông; tăng cường hợp tác với các Đối tác đối thoại Trung quốc và Myanmar và các đối tác phát triển của Ủy hội.
Tại phiên họp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng đánh giá cao những bước tiến quan trọng của Ủy hội trong quản lý bền vững tài nguyên nước, minh bạch hóa chia sẻ dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu vận hành thủy điện gần thời gian thực. Đây là một dấu mốc thể hiện tinh thần hợp tác tin cậy giữa các quốc gia.
Theo ông Hưng, việc tăng cường dự báo, cảnh báo sớm và quan trắc thủy văn, môi trường đã góp phần hỗ trợ cho các nỗ lực giảm thiểu rủi ro thiên tai tại các quốc gia thành viên.
Ông cũng chỉ rõ lưu vực Mekong và vùng đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục chịu tác động nặng nề từ hạn hán, xâm nhập mặn, suy giảm trầm tích, sụt lún và sạt lở bờ sông, bờ biển, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế hàng triệu người dân.
Để triển khai các hoạt động hợp tác thời gian tới, Thứ trưởng Võ Văn Hưng đề xuất các định hướng chiến lược bao gồm: Tăng cường quan trắc và giám sát số lượng và chất lượng nước trên toàn lưu vực, trong đó ưu tiên triển khai hệ thống dữ liệu gần thời gian thực, thiết lập cơ chế cảnh báo sớm và phản ứng kịp thời khi xuất hiện diễn biến bất thường; nâng cao năng lực dự báo và cảnh báo thiên tai, ứng dụng công nghệ tiên tiến, chia sẻ dữ liệu thủy văn đồng bộ để giảm thiểu tác động của lũ, hạn, biến đổi khí hậu cho từng quốc gia và toàn lưu vực.
Bên cạnh đó, dữ liệu thủy điện và quản lý trầm tích toàn lưu vực, sớm thử nghiệm mô hình quản lý trầm tích được chia sẻ sẽ làm cơ sở hài hòa phát điện, chống lũ, duy trì dòng chảy trầm tích; bảo đảm tự chủ tài chính bền vững cho Ủy hội, xây dựng cơ chế tài chính ổn định thông qua đóng góp của quốc gia thành viên, sự hỗ trợ của đối tác phát triển và huy động nguồn lực từ các quỹ khí hậu toàn cầu.
Việt Nam cũng đề xuất thúc đẩy các dự án chung mang tính xuyên biên giới, ưu tiên các chương trình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, tiết kiệm nước, giảm phát thải, đóng góp vào mục tiêu của từng quốc gia và các cam kết tại Hội nghị COP30.
GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam khẳng định việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về trao đổi tín chỉ carbon mang ý nghĩa quan trọng, thiết thực. Đây không chỉ đơn thuần là câu chuyện môi trường hay ứng phó biến đổi khí hậu, mà là vấn đề cốt lõi của hội nhập kinh tế quốc tế, đổi mới công nghệ, huy động nguồn lực tài chính xanh và tạo dựng lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu...
Chiều ngày 23/7/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP), Văn phòng dịch vụ dự án Liên Hợp Quốc (UNOPS) và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức tọa đàm “Thúc đẩy hợp tác trao đổi quốc tế tín chỉ carbon hướng tới thực hiện cam kết giảm phát thải của quốc gia và doanh nghiệp”...
Thị trường carbon không chỉ là một công cụ chính sách, mà đang trở thành một không gian hợp tác và cạnh tranh mới của nền kinh tế toàn cầu. Việc tham gia sớm, chủ động và đúng hướng sẽ giúp Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp không chỉ thực hiện tốt các cam kết giảm phát thải mà còn tận dụng được các cơ hội phát triển mới trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh...
Sau gần 40 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới khi trọng tâm không còn là thu hút càng nhiều vốn càng tốt, mà là lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững...
Báo cáo dự báo El Niño 2026–2027 đưa ra 2 kịch bản rủi ro khí tượng thủy văn do El Niño tại Việt Nam; đồng thời lượng hóa và nhận định rủi ro trực tiếp đối với nền kinh tế: từ an ninh nguồn nước, sản xuất nông nghiệp đến an ninh năng lượng…
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.