
Ngày 30/8, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Lào Cai về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại và việc triển khai thực hiện các Quy hoạch ngành quốc gia trong lĩnh vực năng lượng, khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đánh giá Lào Cai là tỉnh biên giới được xem như “phên dậu của Tổ quốc”. Nằm ở vị trí trung tâm khu vực trung du, miền núi phía Bắc; thuộc khu vực 2 hành lang kinh tế lớn (Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Lào Cai - Hà Nội - Lạng Sơn), Lào Cai được xác định là cửa ngõ kết nối Việt Nam và các nước ASEAN với Trung Quốc. Điều này cho thấy vị trí địa kinh tế, địa chính trị, địa quốc phòng rất quan trọng.
Bên cạnh đó, Lào Cai còn là nơi “sông đầu nguồn, núi tuyệt đỉnh” với các địa danh du lịch nổi tiếng, đã có thương hiệu (như Sa Pa, đỉnh Phan Xi Păng, Bắc Hà); trong tương lai có 3 cửa khẩu quốc tế lớn (hiện có 1 cửa khẩu quốc tế Kim Thành, có 2 cửa khẩu đang quy hoạch); hạ tầng giao thông kết nối phát triển đa phương thức cả về đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không (trong tương lai gần có đường hàng không); giàu tài nguyên khoáng sản với nhiều loại khoáng sản quý, chất lượng cao và trữ lượng lớn (apatit, sắt, đồng…).
"Lào Cai có điều kiện thuận lợi và hội tụ đầy đủ tiềm năng, lợi thế để trở thành một cực tăng trưởng của vùng và cả nước, nhất là về phát triển năng lượng sạch, công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, kinh tế cửa khẩu, giao thương hàng hóa, dịch vụ logistics; Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa… ", Bộ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh.
Theo Bộ trưởng Diên, thời gian qua, tỉnh Lào Cai đã khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của mình. Tỷ trọng ngành công nghiệp và thương mại, dịch vụ chiếm gần 80% GRDP của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng ngoạn mục, gấp hơn 2 lần (cả nước tăng 15,7%); kim ngạch nhập khẩu tăng 50% (cả nước tăng 18,5%).
"Như vậy, lượng nhập khẩu không chỉ là nhập khẩu về cho Lào Cai mà nhập khẩu về cho cả nước. Điều đó chứng tỏ rằng nguyên liệu để sản xuất, xuất khẩu đi thế giới qua cửa khẩu này ngày càng tăng, đây là một tín hiệu rất đáng mừng", Bộ trưởng Bộ Công Thương khẳng định.
Tuy vậy, Bộ trưởng cũng thẳng thắn chỉ ra, bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh vực Công Thương của tỉnh còn có những hạn chế, yếu kém cần tập trung khắc phục.
Sản xuất công nghiệp mặc dù có mức tăng trưởng khá cao nhưng chưa bền vững, đặc biệt công nghệ còn chậm đổi mới; cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp còn thiếu cân đối (tỷ trọng công nghiệp chế biến còn thấp, trong khi tỷ trọng của công nghiệp khai thác cao; khai thác cao nhưng giá trị gia tăng nhỏ và vấn đề môi trường cũng là vấn đề thách thức).
Mặt khác, kinh tế cửa khẩu, hoạt động xuất nhập khẩu còn phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc, chưa mở rộng sang nhiều thị trường khác. Việc tận dụng cơ hội mở cửa thị trường từ các Hiệp định thương mại tự do, nhất là các FTA thế hệ mới mà nước ta là thành viên của các doanh nghiệp còn hạn chế.
Thị trường nội địa sức mua thấp (phần nào do quy mô dân số nhỏ, trong đó khoảng 66% là người dân tộc thiểu số). Hệ thống phân phối, hạ tầng thương mại phát triển chưa đồng bộ, quy mô còn hạn chế.
Đánh giá cao tầm nhìn và những hoạch định của Lào Cai trong định hướng phát triển thời gian tới, đồng thời Bộ Công Thương cơ bản nhất trí với những nhiệm vụ, giải pháp tổng kết của địa phương đã đề ra, phương châm “1 trục, 2 cực, 3 vùng, 4 trụ, 5 giải pháp” là rất đáng tham khảo.
Dưới góc độ ngành công thương, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho rằng quy hoạch tỉnh Lào Cai được phê duyệt từ khá sớm so với các địa phương khác (tháng 3/2023). Tuy nhiên, Quy hoạch Vùng mới được phê duyệt tháng 5/2024 và nhiều Quy hoạch ngành quốc gia được phê duyệt cùng thời điểm hoặc sau khi Quy hoạch của Tỉnh được phê duyệt. Bởi vậy chắc chắn sẽ có nhiều Quy hoạch ngành, Quy hoạch vùng chưa được cập nhật trong Quy hoạch tỉnh.
Vì vậy, tỉnh cần khẩn trương, chủ động rà soát Quy hoạch tỉnh để điều chỉnh, cập nhật Quy hoạch vùng, Quy hoạch ngành, Quy hoạch ngành quốc gia cho đồng bộ với Quy hoạch của mình. Đồng thời, xây dựng Quy hoạch và Kế hoạch sử dụng đất, nhất là Kế hoạch sử dụng đất trong kỳ cũng phải đồng bộ.
Đặc biệt, khẩn trương triển khai thực hiện các Quy hoạch ngành quốc gia thuộc lĩnh vực năng lượng, khoáng sản trên địa bàn. Theo đó, đến năm 2030, trên địa bàn tỉnh được quy hoạch: 28 MW điện mặt trời mái nhà; 30 MW điện sinh khối; 1MW điện rác; 25 dự án thủy điện nhỏ với tổng công suất 223,5MW; 01 dự án Nhà máy Nhiệt điện đồng phát Đức Giang, công suất 100MW; 11 dự án lưới điện; 26 điểm mỏ khoáng sản; 03 dự án chế biến đất hiếm.
“Như vậy, Lào Cai có nhiều điều kiện để triển khai các dự án, nếu triển khai được thì không chỉ nâng năng lực sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ trên địa bàn mà còn đánh thức tiềm năng của địa phương, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển”, ông Diên nhấn mạnh.
Nhất là với ngành khoáng sản, cần quan tâm chỉ đạo để không chỉ khai thác mà chú trọng chế biến sâu; phải hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp theo công thức cuốn chiếu để đạt 2 mục tiêu là vừa nâng cao giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp khai thác chế biến sâu khoáng sản, vừa tạo ra quỹ đất sạch để thu hút đầu tư.
Lào Cai cần đẩy mạnh cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, quy mô lớn, công nghiệp xanh, tuần hoàn, phát triển bền vững. Tập trung phát triển công nghiệp, khai thác chế biến sâu khoáng sản, xây dựng Lào Cai trở thành trung tâm luyện kim, cơ khí, hóa chất lớn của cả nước.
Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến sâu một số sản phẩm nông sản có thế mạnh của tỉnh (như chè, quế, dược liệu…) nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu và đáp ứng yêu cầu các thị trường khó tính (như Mỹ, châu Âu).
Quan tâm phát triển các nguồn năng lượng sạch và phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với lợi thế sẵn có của địa phương. Tỉnh cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp, nhất là ngành năng lượng sạch, chế biến, chế tạo theo hướng đẩy mạnh các nhóm ngành, sản phẩm công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, công nghệ sạch và sản xuất hàng xuất khẩu.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.