
Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất được Tổng cục Hải quan công bố, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 12/2024 (từ ngày 01/12 đến ngày 15/12/2024) đạt 31,48 tỷ USD, giảm 3,5% (tương ứng giảm 1,16 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 11/2024.
Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 12/2024 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/12 đạt 747,13 tỷ USD, tăng 14,7% tương ứng tăng 95,98 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 504,43 tỷ USD, tăng 13% (tương ứng tăng 58,19 tỷ USD).
Cụ thể hơn, về xuất khẩu, tổng trị giá hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 12 năm 2024 đạt 15,36 tỷ USD, giảm 9,1% (tương ứng giảm 1,54 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 11/2024.
Trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 12/2024 giảm so với kỳ 2 tháng 11/2024 ở một số nhóm hàng sau: máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng giảm 469 triệu USD, tương ứng giảm 19,8%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 238 triệu USD, tương ứng giảm 14,9%; hàng dệt may giảm 198 triệu USD, tương ứng giảm 12,4%;...
Như vậy, tính đến hết 15/12, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 385,35 tỷ USD, tăng 13,9%, tương ứng tăng 46,92 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, một số nhóm hàng tăng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 14,38 tỷ USD, tương ứng tăng 26,6%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 8,54 tỷ USD, tương ứng tăng 20,8%; hàng dệt may tăng 3,29 tỷ USD, tương ứng tăng 10,4%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 2,63 tỷ USD, tương ứng tăng 20,6%; giày dép các loại tăng 2,35 tỷ USD, tương ứng tăng 12,21%... so với cùng kỳ năm 2023.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong kỳ 1 tháng 12/2024 đạt 10,63 tỷ USD, giảm 9,2% tương ứng giảm 1,08 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 11/2024. Tính đến hết ngày 15/12/2024, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp này đạt 275,09 tỷ USD, tăng 12%, tương ứng tăng 29,51 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 71% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Theo chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 12/2024 đạt 16,12 tỷ USD, tăng 2,4% (tương ứng tăng 385 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 11/2024.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 12/2024 tăng so với kỳ 2 tháng 11/2024 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: than các loại tăng 105 triệu USD, tương ứng tăng 68,4%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 65 triệu USD, tương ứng tăng 1,5%.
Như vậy, tính đến hết 15/12, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 361,78 tỷ USD, tăng 15,7% (tương ứng tăng 49,06 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, một số nhóm hàng tăng mạnh như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 18,05 tỷ USD, tương ứng tăng 21,4%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 6,67 tỷ USD, tương ứng tăng 16,8%; sắt thép các loại tăng 2,02 tỷ USD, tương ứng tăng 20,2%; kim loại thường khác tăng 1,76 tỷ USD, tương ứng tăng 24%; vải các loại tăng 1,75 tỷ USD, tương ứng tăng 14%... so với cùng kỳ năm 2023.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ này đạt 9,77 tỷ USD, tăng 1,5% (tương ứng tăng 141 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 11/2024. Tính đến hết ngày 15/12/2024, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp này đạt 229,34 tỷ USD, tăng 14,3% (tương ứng tăng 28,69 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023, chiếm 63,4% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Từ kết quả trên, trong kỳ 1 tháng 12 năm 2024, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 760 triệu USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/12, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 23,57 tỷ USD.
Trước Quy định chống mất rừng của EU (EUDR), ngành cao su Việt Nam đang chủ động chuyển dịch từ “chờ đợi” sang hành động quyết liệt. Việc đẩy mạnh chuẩn hóa vùng trồng và truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp vượt qua rào cản kỹ thuật mà còn là cơ hội để bứt phá giá trị tại thị trường EU.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu nhiều loại vật tư đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp giảm đáng kể so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu thu hẹp, trong đó phân bón giảm gần 35%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 5,6%. Dù giá ngô và đậu tương thế giới hạ nhiệt, giá vật tư trong nước vẫn neo ở mức cao. Đáng chú ý, giá cám gạo nội địa tiếp tục tăng vì nguồn cung hạn chế…
Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp có kinh nghiệm trong lĩnh vực điện mặt trời được mời tham gia xây dựng, triển khai các mô hình thí điểm điện mặt trời nông nghiệp (Agri-PV) tại Việt Nam. Hồ sơ đăng ký tham gia chương trình được tiếp nhận đến hết ngày 15/7/2026...
Một khu công nghiệp sinh thái thực chất phải được định hình ngay từ khâu quy hoạch, trước khi viên gạch đầu tiên được đặt xuống, chứ không phải "lớp sơn phủ" lên hạ tầng đã hoàn thiện...
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.
Bước vào 6 tháng cuối năm 2026, kinh tế Việt Nam đứng trước cơ hội bứt phá lớn khi tăng trưởng GDP nửa đầu năm đạt mức ấn tượng 8,18%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đầy tham vọng, nền kinh tế phải đối mặt với không ít áp lực từ xu hướng nhập siêu, áp lực lạm phát và điểm nghẽn giải ngân đầu tư công.
Sự chia sẻ lớn hơn của chính sách tài khóa; các công cụ điều tiết, đảm bảo sự vận hành của thị trường, lưu thông hàng hóa; chính sách về an ninh năng lượng, dự trữ năng lượng... là những giải pháp được đề xuất để giảm áp lực lạm phát từ nay đến cuối năm.