
Theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố, trong tháng 11/2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 59,7 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 11 tháng năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 599,12 tỷ USD, tăng 22,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 299,67 tỷ USD, tăng 17,5% tăng 17,5%; nhập khẩu đạt 299,45 tỷ USD, tăng 27,5% .
Trong 11 tháng năm 2021 có 34 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,5% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 66,4%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 11 tháng năm 2021, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 3,57 tỷ USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 1,2% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 21,4 tỷ USD, tăng 15,4% và chiếm 7,1% (giảm 0,2 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 7,95 tỷ USD, tăng 3,5% và chiếm 2,7% (giảm 0,3 điểm phần trăm).
Đáng chú ý, xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vai trò chủ lực, với kim ngạch xuất khẩu đạt 266,75 tỷ USD, tăng 18% và chiếm tỷ trọng 89% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (tăng 0,4 điểm phần trăm). Việc tăng trưởng cao của nhóm này chủ yếu do sự trở lại hoạt động của các doanh nghiệp tại các tỉnh phía Nam sau hơn 3 tháng dừng hoạt động để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19.
Về thị trường xuất khẩu, trong 11 tháng qua, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 84,8 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 50,5 tỷ USD, tăng 16,8%. Thị trường EU đạt 35,7 tỷ USD, tăng 11,9%. Thị trường ASEAN đạt 25,9 tỷ USD, tăng 23,3%. Hàn Quốc đạt 20 tỷ USD, tăng 14,6%. Nhật Bản đạt 18 tỷ USD, tăng 3%.
Từ chiều ngược lại, trong 11 tháng năm 2021 có 43 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 92,7% tổng kim ngạch nhập khẩu.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 11 tháng năm 2021, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 280,2 tỷ USD, tăng 27,9% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,6% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa (tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 139,2 tỷ USD, tăng 22% và chiếm 46,5% (giảm 2,1 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 141 tỷ USD, tăng 34,3% và chiếm 47,1% (tăng 2,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng đạt 19,25 tỷ USD, tăng 22,2% và chiếm 6,4% (giảm 0,3 điểm phần trăm).
Mặc dù nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước, nhưng chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu sản xuất. Nhóm hàng này chiếm tỷ trọng lớn cho thấy sản xuất trong nước đang hồi phục, các doanh nghiệp đẩy mạnh nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ xuất khẩu cuối năm 2021 và đầu năm 2022.
Về thị trường nhập khẩu 11 tháng năm 2021, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 98,5 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 50,3 tỷ USD, tăng 20,3%. Thị trường ASEAN đạt 37 tỷ USD, tăng 36,1%. Nhật Bản đạt 20,3 tỷ USD, tăng 10,1%. Thị trường EU đạt 15,5 tỷ USD, tăng 18,2%. Hoa Kỳ đạt 14,2 tỷ USD, tăng 14,6%.
Như vậy, sau 11 tháng, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 225 triệu USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 20,19 tỷ USD). Trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 24,32 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 24,55 tỷ USD.
Theo dự báo của Bộ Công Thương, cả năm 2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam sẽ đạt khoảng 640 - 645 tỷ USD và cán cân thương mại duy trì ở mức xuất siêu nhẹ. Đây là kết quả rất lớn bởi năm 2021, Việt Nam chịu tác động nặng nề của dịch Covid-19.
Tuy nhiên, vượt qua những khó khăn đó, các doanh nghiệp vẫn duy trì và phục hồi sản xuất sau dịch rất nhanh chóng. Đặc biệt, các ngành có thế mạnh như dệt may, da giày, dù chịu tác động lớn của dịch bệnh nhưng vẫn đạt mục tiêu sớm hơn dự kiến.
Từ nay đến cuối năm, doanh nghiệp trong các ngành này có thể lấy lại được tốc độ tăng trưởng như trước khi có dịch. Những ngành hàng truyền thống, có thế mạnh xuất khẩu như điện thoại, điện tử, máy móc, linh kiện… cũng có thể đạt mức tăng trưởng xuất khẩu khoảng 15 - 25% trong năm nay.
Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu đang có những thuận lợi khi Việt Nam đang khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA).
Qua 3 năm thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và hơn 1 năm thực hiện Hiệp định Thương mại tư do giữa Việt Nam - EU (EVFTA), tác động từ những hiệp định này đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa rất rõ, đặc biệt với thị trường mà Việt Nam chưa từng ký FTA.
Cụ thể nhờ CPTPP, xuất khẩu hàng hóa sang Canada, Mexico và Peru đều có mức tăng trưởng từ 25 - 30%/năm, còn với thị trường EU, EVFTA đang mở rộng những cơ chế ưu đãi mang tính chất bền vững. Tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ EVFTA thông qua việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu EUR1 lên đến xấp xỉ 20%, là tỷ lệ rất đáng kể.
Con số còn lại, không phải là hàng hóa của Việt Nam không được cấp C/O sẽ không được ưu đãi, mà nhiều mặt hàng xuất khẩu sang EU hiện nay có thuế suất rất thấp nhờ vẫn đang được hưởng GSP nên một số trường hợp, doanh nghiệp không cần xin mẫu C/O EUR1.
Để thúc đẩy xuất khẩu trong những tháng cuối năm, Bộ Công Thương đã và đang tập trung các giải pháp củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tận dụng tối đa lợi thế từ các FTA đã có hiệu lực; hướng dẫn doanh nghiệp chú trọng vào các thị trường nhỏ và thị trường ngách.
Đồng thời, tăng cường quản lý xuất khẩu, nhập khẩu một số mặt hàng chiến lược; làm việc với Đại sứ quán Trung Quốc đề nghị tạo thuận lợi cho hoạt động thông quan, xuất khẩu hàng hóa qua cửa khẩu biên giới phía Bắc. Bên cạnh đó, tiếp tục đổi mới, tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu cả trong và ngoài nước trên môi trường trực tuyến và dựa trên những nền tảng mới.
Theo các chuyên gia đánh giá, thương mại điện tử xuyên biên giới sẽ còn mở rộng hơn, nhất là trong bối cảnh Hiệp định EVFTA đã có hiệu lực. Tuy nhiên, cơ hội luôn đi kèm thách thức.
Để hàng hóa Việt Nam xuất khẩu thành công trên các kênh thương mại điện tử quy mô toàn cầu, doanh nghiệp cần nắm vững các quy định về chất lượng, tiêu chuẩn hàng hoá, chính sách liên quan tới nhập khẩu và pháp lý của thị trường này, đảm bảo hàng hóa đủ chứng từ, chứng nhận phù hợp với yêu cầu.
Đồng thời, doanh nghiệp xuất khẩu phải hiểu rõ cách vận hành logistics, bảo quản hàng hóa và tính toán được phương án vận chuyển tối ưu, chi phí thấp để cạnh tranh tại thị trường nhập khẩu.
Dù tiêu thụ 80% nguyên liệu rừng trồng, dăm gỗ và viên nén chỉ mang lại 3-4 tỷ USD trong tổng 18 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu ngành gỗ. Trái lại, chế biến sâu chỉ dùng 20% nguyên liệu nhưng tạo ra giá trị xuất khẩu tới 14-15 tỷ USD. Chuỗi liên kết lỏng lẻo đang là điểm nghẽn lớn cản trở ngành trồng rừng - chế biến gỗ nâng cao giá trị gia tăng.
Trong bối cảnh giá cà phê thế giới đang phục hồi nhờ lo ngại nguồn cung từ Brazil, cùng triển vọng niên vụ mới đạt sản lượng kỷ lục, ngành cà phê Việt Nam đứng trước cơ hội gia tăng giá trị xuất khẩu nếu đẩy mạnh chế biến sâu và tận dụng hiệu quả các thị trường trọng điểm…
Dù Hàn Quốc tiếp tục khẳng định vị thế là đối tác thương mại và đầu tư chiến lược hàng đầu của Việt Nam, song áp lực nhập siêu gia tăng kỷ lục cùng các hàng rào tiêu chuẩn khắt khe đòi hỏi một bước chuyển dịch căn bản: Từ "xúc tiến theo sự kiện" sang "đo lường bằng kết quả thực chất"...
Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP do Chính phủ ban hành ngày 31/7/2026 được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển quan trọng trong công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói khi chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang tự kê khai, hậu kiểm, qua đó rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và giảm đáng kể gánh nặng hành chính cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp...
Liên tiếp các dự án nguồn điện được chấp thuận chủ trương đầu tư đang tạo thêm động lực cho Hà Tĩnh hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm năng lượng của khu vực Bắc Trung Bộ. Không chỉ bổ sung nguồn cung điện cho hệ thống quốc gia, các dự án còn mở ra dư địa phát triển công nghiệp, logistics và thu hút đầu tư quy mô lớn...
Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều tín hiệu tích cực của nền kinh tế. Đằng sau những con số tăng trưởng là yêu cầu nhìn lại hiệu quả thực thi các quyết sách và nhận diện những động lực cần tiếp tục được khơi thông trong chặng đường còn lại của năm, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Lương cơ sở chính thức tăng hơn một tháng, kéo theo áp lực giá cả tăng theo. Trong bối cảnh đó, Chính phủ triển khai hàng loạt các chính sách giãn, hoãn, miễn giảm thuế phí nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.