Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2011. Qua 15 năm thực hiện (2011 – 2025), Luật An toàn thực phẩm 2010 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho công tác quản lý nhà nước, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng thực phẩm và thúc đẩy xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế sâu rộng, bối cảnh hiện nay đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi toàn diện bộ luật này. Thực tiễn quản lý thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng do mô hình phân công cắt khúc, phân tán giữa 3 Bộ (Y tế, Công Thương, Nông nghiệp). Cơ chế này dẫn đến tình trạng vừa chồng chéo (nhiều đoàn cùng kiểm tra một cơ sở kinh doanh đa ngành), vừa buông lỏng (thiếu đơn vị chịu trách nhiệm chính khi xảy ra sự cố ngộ độc lớn; nhân lực chuyên trách bị thiếu hụt). Bên cạnh đó là khoảng trống trong cơ chế tiền kiểm - hậu kiểm, nguy cơ mất an toàn tại các bếp ăn tập thể, thức ăn đường phố và hạ tầng kiểm nghiệm chưa đồng đều...
Tại hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)”, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho biết một số điểm chưa tương thích giữa phân loại nguy cơ và mức độ thủ tục trong dự thảo. Cụ thể, Điều 43 phân loại thực phẩm thành hai nhóm nguy cơ, trong khi Điều 46 lại thiết kế ba tầng thủ tục. Cách thiết kế này có thể khiến nguồn lực quản lý không được tập trung đúng trọng tâm.
Đối chiếu với hướng dẫn phân loại rủi ro của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) năm 2023 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, ông Đậu Anh Tuấn đề nghị thống nhất cách phân loại thành ba mức độ (cao, trung bình, thấp). Đồng thời, cần làm rõ các khái niệm có phạm vi diễn giải rộng như “sản phẩm có khuyến cáo về sức khỏe”, “sử dụng cho đối tượng dễ tổn thương” hay “tác dụng duy trì, tăng cường chức năng cơ thể” để tránh gây tranh cãi giữa doanh nghiệp và cơ quan tiếp nhận hồ sơ.
Đại diện VCCI cũng cho rằng các yêu cầu như bằng chứng khoa học chứng minh công dụng, báo cáo nghiên cứu phát triển hay nghiên cứu độ ổn định chỉ nên áp dụng cho thực phẩm bảo vệ sức khỏe, tránh áp dụng chung cho thực phẩm thông thường hay sản phẩm truyền thống của làng nghề và doanh nghiệp nhỏ.
Đồng quan điểm, đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam (VDA) bày tỏ lo ngại các quy định mới có thể tạo ra “nút thắt” tiền kiểm. Theo VDA, cơ chế hiện hành yêu cầu hồ sơ tự công bố gồm 2 loại tài liệu, hồ sơ đăng ký gồm 4 loại với thời gian xử lý từ 0 - 7 ngày. Trong khi đó, dự thảo mới nâng số lượng tài liệu lên 14 loại (tăng 3,5 - 7 lần) và kéo dài thời gian xử lý lên 15 ngày đối với tự công bố, 90 ngày đối với đăng ký. VDA cảnh báo quy định này có thể khiến nhiều sản phẩm truyền thống không đủ khả năng hoàn thiện hồ sơ, buộc phải dừng hoạt động.
Ở góc độ doanh nghiệp quốc tế, đại diện Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AMCHAM) lưu ý tình trạng thiếu hoặc chậm cập nhật tiêu chuẩn kỹ thuật có thể tạo khoảng trống pháp lý, gây khó khăn cho công tác thanh kiểm tra.
Đại diện Tiểu ban Thực phẩm dinh dưỡng (NFG) thuộc EuroCham nhận định: “Nếu cơ chế “công bố tiêu chuẩn sản phẩm” đòi hỏi cơ quan nhà nước tiếp nhận và xử lý trước khi lưu thông thì sẽ biến thành một dạng tiền kiểm mới, làm thay đổi bản chất của cơ chế tự công bố và làm tăng chi phí tuân thủ do yêu cầu đăng ký lại định kỳ”.
Để tháo gỡ các vướng mắc trên, ông Nguyễn Đức Thịnh, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Khoa học kỹ thuật An toàn thực phẩm (VINAFOSA), lưu ý thực phẩm có phạm vi rất rộng, từ sản phẩm nông nghiệp nhỏ lẻ, thực phẩm tươi sống đến sản phẩm công nghiệp bao gói sẵn. Mỗi nhóm có nguồn phát sinh mối nguy, mức độ phơi nhiễm và khả năng kiểm soát khác nhau. Do đó, không thể quản lý tất cả thực phẩm theo cùng một phương thức.
VINAFOSA kiến nghị từng bước chuyển từ tư duy “quản lý tất cả thực phẩm theo một hệ thống thủ tục tương đối đồng đều” sang tư duy “phân loại rủi ro và áp dụng biện pháp quản lý tương xứng với rủi ro”. Cụ thể, bổ sung nguyên tắc quản lý dựa trên rủi ro, xác định mức độ tiền kiểm, tần suất thanh tra dựa trên nguy cơ thực tế, đặc điểm sản phẩm và lịch sử tuân thủ. Xây dựng hệ thống phân loại rủi ro quốc gia, làm cơ sở thiết kế phương thức quản lý phù hợp. Thiết kế các tầng quản lý tương ứng: áp dụng tiền kiểm có trọng tâm với sản phẩm nguy cơ cao; phát huy cơ chế tự công bố và hậu kiểm đối với thực phẩm bao gói sẵn thông thường.
Đồng thời, lấy lịch sử tuân thủ làm căn cứ quản lý. Doanh nghiệp tuân thủ tốt được giảm gánh nặng kiểm tra; ngược lại, đơn vị vi phạm sẽ chịu mức độ kiểm soát cao hơn. Cùng với đó, có lộ trình riêng cho khu vực sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, như quản lý từng bước thông qua mã vùng trồng, hợp tác xã, chợ đầu mối, đơn vị thu mua thay vì ép áp dụng ngay quy định như nhà máy lớn.
Đồng quan điểm, bà Trần Hoàng Yến, Phó Trưởng Văn phòng đại diện Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), đề xuất hoạt động kiểm tra hàng xuất khẩu cần chú trọng lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp. Các cơ sở đã áp dụng hệ thống quản lý như HACCP (Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn) hoặc ISO 22000 nên được giảm tần suất kiểm tra.
Đối với quản lý rủi ro thủy sản, ông Nguyễn Như Tiệp, đại diện Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, khuyến nghị cần kiểm soát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y và hóa chất; đồng thời đề xuất bổ sung quy định chi tiết về giới hạn dư lượng tối đa mặc định đối với các chất chưa có quy định cụ thể. Cùng với đó, quy định rõ điều kiện chuyển đổi mục đích sử dụng thực phẩm nhập khẩu và quy trình xử lý lô hàng bị trả về...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 37-2026 phát hành ngày 14/09/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-37-2026.html
Từ đầu năm đến nay, TP. Hồ Chí Minh đã đồng loạt khởi công 49 dự án, công trình đầu tư công và PPP (đối tác công tư), với tỷ lệ giải ngân đầu tư công đạt 95%...
9 tháng đầu năm 2026, GRDP TP. Hồ Chí Minh tăng 9,06%, thu ngân sách đạt 676.937 tỷ đồng, giải ngân đầu tư công đạt 75,5% kế hoạch và thu hút 17,8 tỷ USD vốn FDI đăng ký. Bước sang quý 4, thành phố tập trung đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, tháo gỡ các dự án vướng mắc, đấu giá đất, thu hồi nợ thuế và thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư tư nhân nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế năm 2026...
Chủ tịch Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP có trách nhiệm chỉ đạo, điều hành hoạt động đánh giá, phân hạng, chủ trì các cuộc họp và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá; các thành viên Hội đồng thực hiện rà soát, cho ý kiến chuyên môn theo lĩnh vực được phân công…
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh: "Sự trưởng thành vượt bậc của các Thương hiệu quốc gia không chỉ thể hiện qua những con số tăng trưởng kinh tế ấn tượng, mà còn khẳng định sức mạnh cạnh tranh, uy tín và vị thế của Việt Nam trên bản đồ thế giới"…
Nâng tầm thương hiệu phân bón, kết nối nguồn cung, mở rộng thị trường và tiếp cận khách hàng nông nghiệp quy mô lớn đang là những hướng đi được Tổng công ty Phân bón Dầu khí Cà Mau (PVCFC, HOSE:DCM), đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) thúc đẩy trong hoạt động xúc tiến thương mại tại Đông Nam Á.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.