Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam cho rằng xu hướng tiêu dùng sản phẩm hữu cơ đang tăng mạnh tại Việt Nam và trên thế giới, mở ra cơ hội lớn để phát triển nền nông nghiệp xanh và nâng cao giá trị nông sản. Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ chính thức ban hành Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030, tạo nên một bước ngoặt quan trọng về khung pháp lý và định hướng dài hạn cho nền nông nghiệp bền vững.
MUÔN VÀN RÀO CẢN
Đến nay, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ có xu hướng tăng, một số chuỗi giá trị đã hình thành tương đối hoàn chỉnh, từ vùng nguyên liệu đến chế biến, đóng gói và nhiều sản phẩm đã thâm nhập được các thị trường nước ngoài khó tính. Tuy nhiên, nông sản hữu cơ tại Việt Nam vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn, chủ yếu do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chi phí canh tác cao và thiếu niềm tin từ người tiêu dùng.
Để làm ra một sản phẩm hữu cơ "sạch từ tâm" đúng nghĩa, người nông dân và doanh nghiệp phải đánh đổi bằng rất nhiều thời gian, công sức cùng chi phí đầu tư khổng lồ. Hành trình 7 năm vật lộn của bà Nguyễn Hoài, CEO Công ty Cổ phần Tập đoàn G.Organic cùng các cộng sự tại Lâm Đồng chính là một minh chứng sống động cho những thử thách khắc nghiệt này.
Ngay từ khâu làm sạch đất, doanh nghiệp đã phải đối mặt với thực trạng ô nhiễm môi trường canh tác vốn kéo dài nhiều năm qua. Muốn đạt chuẩn hữu cơ, quy trình trả lại sự tinh khiết cho đất kéo dài tối thiểu từ 3 đến 5 năm.
"Phải mất nhiều năm cho đất nghỉ, trồng cỏ rồi lấy chính cỏ đó làm phân xanh cải tạo đất. Trước khi đặt mầm cây xuống, mẫu đất phải đi kiểm nghiệm gần 100 chỉ tiêu nghiêm ngặt để đảm bảo không còn tồn dư thuốc bảo vệ thực vật hay hóa chất", bà Hoài chia sẻ.
Chưa dừng lại ở đó, việc tìm kiếm một mảnh đất cách ly hoàn toàn với các vùng canh tác vô cơ xung quanh là vô cùng gian nan. Dù trang trại tuyệt đối không dùng hóa chất, nhưng nếu chỉ cách vườn bên cạnh một cây số, thuốc trừ sâu vẫn theo gió bay sang. Điều này buộc các đơn vị làm hữu cơ thật phải tốn kém thêm kinh phí xây bờ bao bê tông chống nước tràn và trồng các hàng cây dày đặc làm vùng đệm cách ly.
Không chỉ bài toán môi trường, rào cản kỹ thuật và chi phí vận hành cũng là thách thức lớn khiến nhiều người dễ nản lòng. Nếu một sào rau thông thường chỉ tốn khoảng vài trăm nghìn đồng tiền thuốc xịt cỏ và công phun, thì làm hữu cơ có thể tốn tới 10 triệu đồng tiền công nhổ cỏ thủ công.
Hơn nữa, nguồn hạt giống hữu cơ chuẩn trong nước rất khan hiếm, đại đa số phải nhập khẩu đắt đỏ từ nước ngoài. Ông Cao Hoàng Minh, Phụ trách kỹ thuật của G.Organic, cho biết khi cây bị rệp hay sâu đục thân tấn công, việc tuyệt đối không được dùng thuốc hóa học khiến rủi ro mất trắng vụ mùa luôn chực chờ. Chính G.Organic cũng từng nếm trải 3 năm liên tiếp thất bại, rau trồng chỉ cao hơn một gang tay là thối rễ, cuốn trôi hàng tỷ đồng vốn đầu tư.
Ngay cả khi thu hoạch thành công, khâu chế biến thực phẩm hữu cơ thành sản phẩm thương mại lại xuất hiện một "cái bẫy" khác mang tên rủi ro nhiễm chéo. Việc đưa nguyên liệu hữu cơ đi thuê gia công tại các nhà máy thông thường rất dễ dẫn đến tình trạng tráo đổi nguyên liệu hoặc nhiễm chéo hóa chất từ các dây chuyền sản xuất gối đầu.
Trăn trở trước việc sản phẩm của mình bị nghi ngờ chất lượng, bà Hoài đã chấp nhận dừng sản xuất hơn 1 năm, bán nhiều tài sản trị giá hàng chục tỷ đồng để tự xây dựng nhà máy sản xuất khép kín đạt chuẩn.
Bên cạnh đó, việc đăng ký chứng nhận hữu cơ khắt khe từ các tổ chức quốc tế ngốn rất nhiều chi phí và thời gian. Chi phí đầu tư đắt đỏ đẩy giá thành sản phẩm hữu cơ cao gấp nhiều lần so với sản phẩm thông thường. Trong khi đó, niềm tin của người tiêu dùng lại bị ảnh hưởng bởi thị trường nhập nhằng thật giả, cùng tâm lý chưa sẵn sàng đón nhận mức giá cao của sản phẩm hữu cơ chuẩn.
Từ thực tiễn gian nan của các doanh nghiệp tiên phong như G.Organic, có thể thấy để nông nghiệp hữu cơ Việt Nam phát triển bền vững và bứt phá, chúng ta cần một chiến lược tổng thể với những giải pháp đồng bộ và quyết liệt.
Trọng tâm hàng đầu nằm ở việc hoàn thiện các cơ chế chính sách và quy hoạch vùng sản xuất. Cơ quan quản lý nhà nước cần sớm triển khai các vùng sản xuất hữu cơ tập trung, đi kèm với chính sách ưu đãi về vốn vay, chi phí thuê đất và hỗ trợ kinh phí kiểm nghiệm chứng nhận cho doanh nghiệp.
Song song với đó, theo bà Hoài, việc thanh tra, kiểm soát và "làm sạch" thị trường là nhiệm vụ cấp bách nhằm loại bỏ các sản phẩm mạo danh hữu cơ, qua đó bảo vệ uy tín cho những đơn vị làm ăn chân chính và củng cố niềm tin nơi người tiêu dùng.
Ở góc độ khoa học công nghệ, việc đầu tư nghiên cứu R&D trong nước đóng vai trò then chốt. Chúng ta cần tự chủ nguồn hạt giống hữu cơ chuẩn, đẩy mạnh sản xuất các loại phân bón vi sinh và chế phẩm sinh học an toàn để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Việc ứng dụng công nghệ sấy lạnh, nghiền mịn hiện đại trong khâu chế biến sâu cũng giúp giữ nguyên giá trị dinh dưỡng, kéo dài thời gian bảo quản sản phẩm mà không cần chất bảo quản, giải quyết bài toán đầu ra cho nông sản.
Bên cạnh đó, bài toán xúc tiến thị trường và truyền thông cộng đồng về sản phẩm hữu cơ cần được thúc đẩy mạnh mẽ. CEO G.Organic kiến nghị các cơ quan chức năng và truyền thông nên đồng hành cùng doanh nghiệp để nâng cao nhận thức của người dân về giá trị của nông sản hữu cơ đối với sức khỏe. Khi người tiêu dùng hiểu rõ lý do đằng sau mức giá của sản phẩm hữu cơ và kiểm tra được nguồn gốc minh bạch từ farm đến bàn ăn, thị trường sẽ tự khắc mở rộng.
Sau cùng, giải pháp tạo dựng hệ sinh thái liên kết chuỗi giá trị và thúc đẩy xuất khẩu sẽ mở ra con đường rộng lớn hơn. Theo Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, cần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tàu chuyển giao kỹ thuật, bao tiêu sản phẩm cho người nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ. Đồng thời, các cơ quan thương mại cần hỗ trợ doanh nghiệp đưa các sản phẩm chế biến sâu từ nông sản Việt – như các loại bột rau củ, gừng, nghệ, quế... vươn tới các thị trường quốc tế đầy tiềm năng như Hàn Quốc, Nhật Bản, EU và Mỹ.
Từ quan hệ cung ứng kéo dài hơn một thập kỷ với Elmet tại Mỹ, hợp tác chế biến với GB Innovation tại Hàn Quốc đến quan hệ khách hàng với Mitsubishi Materials của Nhật Bản, Masan High-Tech Materials (UPCoM: MSR) đang kết nối năng lực chế biến tại Việt Nam với nhiều thị trường công nghiệp lớn trên thế giới.
Nhà phân phối quốc tế thiếu kênh xác minh doanh nghiệp Việt Nam, còn doanh nghiệp nội lại khó “tự gõ cửa” từng khách hàng ngoại. Nhằm tháo gỡ hai điểm nghẽn này, hệ thống Thương vụ Việt Nam tại hơn 60 thị trường trên thế giới đang đóng vai trò lớp trung gian đặc biệt. Dù không mua hay bán, nhưng là bên bảo chứng tin cậy để hai phía sẵn sàng ngồi vào bàn đàm phán…
Sự thiếu đồng bộ trong quy định pháp luật, biến động cước phí vận tải cùng những bất cập về cơ chế giá đang đặt ra thách thức lớn cho cộng đồng doanh nghiệp. Khẩn trương rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính và tạo hành lang pháp lý minh bạch là giải pháp then chốt để giải phóng nguồn lực cho ngành công thương...
Từ ngày 19/8/2029, các quy định mới của EU về tên gọi thịt và sản phẩm thịt sẽ chính thức được áp dụng. Quy định không chỉ tác động đến doanh nghiệp thực phẩm tại châu Âu mà còn đặt ra yêu cầu rà soát đối với hàng hóa nhập khẩu, trong đó có thực phẩm chay, vegan, plant-based và các sản phẩm thay thế thịt của Việt Nam...
Mưa lớn những ngày qua gây ngập lụt, sạt lở tại nhiều địa phương từ Bắc Trung Bộ đến miền Trung, làm hơn 1.000 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại, 53 điểm giao thông sạt lở và nhiều tuyến đường bị ngập, ách tắc...
Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...
Xu hướng chăm sóc sức khỏe chủ động đang ngày càng tác động đến cách du khách lựa chọn điểm đến. Đây được xem là dư địa để Việt Nam phát triển du lịch wellness, kết hợp nghỉ dưỡng, trị liệu, dinh dưỡng và trải nghiệm thiên nhiên.