
Danh mục mặt hàng đá quý, kim loại quý bao gồm: kim cương, đá quý các loại, vàng tiền chất kim loại, bạc nguyên thô...
Việt Nam nhập khẩu đá quý, kim loại quý nhiều nhất từ Ấn Độ, với 17,34 triệu USD trong 2 tháng đầu năm 2018, chiếm 22,3% tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng.
Đứng thứ hai là EU, với kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng đá quý, kim loại quý đạt 7,79 triệu USD. Hàn Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này nhiều thứ ba, với 7,58 triệu USD trong 2 tháng.
Tiếp theo là các thị trường như Hồng Kông (6,8 triệu USD); Bỉ (5,7 triệu USD); Nhật (4,8 triệu USD), Trung Quốc (3,6 triệu USD)...
Tính riêng tháng 2/2018, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng đá quý, kim loại quý của Việt Nam đạt 34,26 triệu USD, giảm 21,3% so với tháng 1/2018.
Còn tính chung trong 2 tháng đầu năm, Việt Nam đã chi 77,82 triệu USD (khoảng 1.770 tỷ đồng) để nhập khẩu nhóm hàng này, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2017.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu đá quý, kim loại quý của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm đạt 78,5 triệu USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm 2017.
Như vậy, Việt Nam đã xuất siêu được 680.000 USD (khoảng 15,5 tỷ đồng) nhóm mặt hàng này.
Theo số liệu thống kê không chính thức, hiện Việt Nam có khoảng 10.000 doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng nữ trang, trong đó chủ yếu là kinh doanh vàng, bạc trang sức và các loại đá quý.




Bám sát Nghị quyết 10-NQ/TW, Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế ưu đãi FDI sang hướng tập trung nâng cao năng lực sản xuất thực chất cho doanh nghiệp nội địa. Việc áp dụng Bộ chỉ tiêu phát triển nhà cung ứng (SDS) sẽ biến khối FDI thành “trường học công nghiệp”, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và hình thành hệ sinh thái phụ trợ mạnh mẽ, giúp Việt Nam xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại…
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong năm 2026, nhờ nhu cầu ổn định từ các thị trường lớn và cơ hội mở rộng sang Trung Đông, Nam Á. Tuy nhiên, cùng với triển vọng khả quan là những yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng và quản trị rủi ro trong hoạt động thương mại quốc tế.
Sự phát triển của báo điện tử và mạng xã hội khiến khủng hoảng truyền thông có thể lan rộng với tốc độ chưa từng có, gây tác động nặng nề đến doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ “cộng sinh” giữa báo chí và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp kiểm soát thông tin và hóa giải khủng hoảng hiệu quả.
Trong bối cảnh thiên tai diễn biến ngày càng phức tạp, thông tin chính xác và kịp thời được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng nhằm giúp người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Một cảnh báo phát đi đúng lúc có thể giúp bảo vệ tính mạng và tài sản, trong khi thông tin chậm trễ hoặc sai lệch có thể làm gia tăng rủi ro.
Dự án An sinh xã hội DGD đã triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm đảm bảo an sinh và an toàn lao động cho nông dân chuỗi lúa gạo, tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đó, dự án giúp nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững và bao trùm hơn...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.