Nghị định số 236/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 của Quốc hội về việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu (thuế tối thiểu toàn cầu).
Thứ nhất, về đối tượng nộp thuế. Khoản 1, Điều 3 nghị định này quy định người nộp thuế là đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia có doanh thu năm trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao (pháp nhân có vốn chủ sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp tại các pháp nhân khác của một tập đoàn đa quốc gia thuộc Khoản 26 Điều 3 Luật Quản lý thuế 2019 - Pv) ít nhất 2 năm trong 4 năm liền kề trước năm tài chính xác định nghĩa vụ thuế tương đương 750 triệu euro (EUR) trở lên.
Theo quy định, thuế tối thiểu toàn cầu nhiều hơn mức phải nộp thì khoản nộp thừa sẽ được xử lý theo ba cách: (i) bù trừ với các khoản còn nợ, (ii) trừ vào nghĩa vụ nộp thuế của kỳ tiếp theo hoặc (iii) hoàn trả khi đơn vị không còn nợ nghĩa vụ thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt.
(Nghị định 236/2025/NĐ-CP)
Quy định này cũng áp dụng với tập đoàn đa quốc gia mới thành lập có thời gian hoạt động ít hơn 4 năm trước năm tài chính xác định nghĩa vụ thuế nếu đáp ứng ngưỡng doanh thu nói trên.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều nằm trong diện áp dụng. Theo đó, Khoản 3, Điều 3 Nghị định 236/2025/NĐ-CP cũng nêu rõ những nhóm đối tượng thuộc diện loại trừ bao gồm các trường hợp được đề cập từ Điểm a đến Điểm e Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 107/2023/QH15 và các phụ lục kèm theo.
Đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia có doanh thu trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao ít nhất 02 năm trong 04 năm liền kề trước năm tài chính tương đương 750 triệu euro (EUR) trở lên, trừ các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức của chính phủ;
b) Tổ chức quốc tế;
c) Tổ chức phi lợi nhuận;
d) Quỹ hưu trí;
đ) Quỹ đầu tư là công ty mẹ tối cao;
e) Tổ chức đầu tư bất động sản là công ty mẹ tối cao;
Nghị quyết số 107/2023/QH15
Song song với đó, đơn vị có trên 95% giá trị thuộc sở hữu của các tổ chức đã được loại trừ (trừ tổ chức dịch vụ hưu trí) và hoạt động chủ yếu nhằm nắm giữ tài sản hoặc đầu tư vốn thì cũng được xác định là đơn vị được miễn nghĩa vụ nộp thuế.
Ngoài ra, những đơn vị chỉ thực hiện các hoạt động phụ trợ cho các hoạt động do các đơn vị được loại trừ thực hiện hoặc do bên thứ ba thuộc sở hữu của đơn vị được loại trừ (ít nhất 95% giá trị đơn vị) thực hiện cũng không ngoại lệ.
Một trường hợp khác là các đơn vị phụ trợ do tổ chức phi lợi nhuận sở hữu toàn bộ giá trị. Những đơn vị này được coi là loại trừ nếu doanh thu hợp nhất của tập đoàn, sau khi loại trừ các khoản từ tổ chức phi lợi nhuận hoặc các đơn vị được loại trừ khác, chiếm dưới 25% tổng doanh thu và không vượt ngưỡng 750 triệu euro.
Theo đó, doanh thu của các đơn vị được loại trừ vẫn được cộng gộp vào doanh thu hợp nhất của tập đoàn để tính ngưỡng áp dụng mức 750 triệu euro, Nghị định 236/2025/NĐ-CP nêu rõ.
Quy định mới cũng tính đến trường hợp đơn vị có ít nhất 85% giá trị được sở hữu trực tiếp hoặc thông qua một hoặc nhiều đơn vị được loại trừ (trừ tổ chức dịch vụ hưu trí). Nếu đơn vị đó đáp ứng điều kiện phần lớn thu nhập là cổ tức được loại trừ hoặc lãi/lỗ trên vốn chủ sở hữu được loại trừ khi tính thu nhập hoặc lỗ theo quy định tại điểm 4.1.2 và điểm 4.1.3 Mục II Phụ lục II cũng không phải chịu khoản thuế này.
Ngoài ra, nếu đơn vị là thành viên tập đoàn nhưng thuộc sở hữu của quỹ đầu tư hoặc tổ chức đầu tư bất động sản đủ điều kiện thì vẫn được công nhận là đơn vị được loại trừ, ngay cả khi quỹ hoặc tổ chức này không phải là công ty mẹ tối cao.
Việc xác định đơn vị không phải nộp thuế được tính trên toàn bộ hoạt động, bao gồm cả các cơ sở thường trú. Nếu một đơn vị đáp ứng điều kiện loại trừ thì toàn bộ hoạt động của đơn vị đó dù thực hiện ở bất kỳ đâu cũng được miễn theo quy định.
(Nghị định 236/2025/NĐ-CP)
Đáng chú ý, đơn vị hợp thành có thể chủ động lựa chọn từ bỏ quyền áp dụng quy định loại trừ này. Sự lựa chọn có hiệu lực trong thời hạn 5 năm và tuân thủ theo cơ chế quy định sẵn.
Thứ hai, Nghị định 236/2025/NĐ-CP cũng quy định chi tiết về quy tắc nộp thuế, bù trừ và hoàn thuế
Theo đó, số thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu được nộp vào ngân sách trung ương. Đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai thực hiện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Nếu đơn vị hợp thành đã nộp số tiền thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt liên quan đến thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu nhiều hơn mức phải nộp thì khoản nộp thừa sẽ được xử lý theo ba cách: (i) bù trừ với các khoản còn nợ, (ii) trừ vào nghĩa vụ nộp thuế của kỳ tiếp theo hoặc (iii) hoàn trả khi đơn vị không còn nợ nghĩa vụ thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt.
Trường hợp người nộp thuế đề nghị bù trừ số tiền đã nộp thừa với các khoản thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu thì sẽ không bị tính tiền chậm nộp đối với phần được bù trừ, tính từ ngày phát sinh khoản nộp thừa đến ngày cơ quan thuế thực hiện bù trừ.