Đó là một quyết định mang tính chiến lược của Paris: đầu tư văn hóa như một ngành kinh tế, một xu hướng kinh tế đô thị của thế kỷ 21. Việc chuyển đổi nhà ga cũ thành bảo tàng Musée d’Orsay phản ánh một tư duy kinh tế tiến bộ, rằng văn hóa không phải chi phí, mà là hạ tầng "sức mạnh mềm" tạo nên sự tăng trưởng.
Bảo tàng không chỉ lưu giữ nghệ thuật thế kỷ 19 mà còn kích hoạt một chuỗi giá trị kinh tế, từ hàng triệu lượt khách mỗi năm đến doanh thu trực tiếp và gián tiếp cho khách sạn, nhà hàng, bán lẻ. Khu vực bờ sông Seine xung quanh Orsay tăng giá trị nhờ dòng người và hình ảnh văn hóa cao cấp góp phần củng cố vị thế Paris như “thủ đô văn hóa toàn cầu”, một lợi thế cạnh tranh mềm nhưng bền vững.
Theo cách này, Paris đã biến một công trình không còn giá trị sử dụng thành tài sản sinh lời liên tục, không dựa vào khai thác tài nguyên vật chất mà dựa vào tri thức, di sản và trải nghiệm.
Câu chuyện của Musée d’Orsay không chỉ là một giai thoại kiến trúc, mà là một "case study" kinh tế đô thị, về cách các thành phố lớn biến “tài sản chết” thành nguồn lực tăng trưởng dài hạn. Một nhà máy cũ, một nhà ga bỏ hoang hay một công trình công nghiệp lỗi thời có thể trở thành bảo tàng, trung tâm sáng tạo, không gian văn hóa – nếu nhà hoạch định chính sách nhìn thấy giá trị dài hạn thay vì lợi ích ngắn hạn.
Trong logic kinh tế truyền thống, một công trình hạ tầng không còn công năng ban đầu thường bị xem là chi phí chìm: tốn kém bảo trì, chiếm đất vàng, không tạo ra giá trị gia tăng.
Với Gare d’Orsay, Paris từng đứng trước ba lựa chọn quen thuộc: phá bỏ để xây mới, bán cho tư nhân, hoặc để mặc nó xuống cấp. Cả ba phương án đều mang rủi ro kinh tế cao. Phá bỏ đồng nghĩa với chi phí khổng lồ và mất đi một biểu tượng kiến trúc. Bán cho tư nhân dễ dẫn đến thương mại hóa ngắn hạn, làm nghèo bản sắc đô thị. Còn bỏ hoang thì khiến giá trị khu vực xung quanh suy giảm.
Quay lại với thực tại, theo các thống kê gần đây, Musée d’Orsay đón khoảng 3,7 – 3,9 triệu lượt khách mỗi năm. Với giá vé tiêu chuẩn khoảng 16 euro/lượt, doanh thu trực tiếp từ bán vé ước đạt xấp xỉ 60 triệu euro/năm, chưa tính các nguồn thu bổ trợ như tour hướng dẫn, cửa hàng lưu niệm, không gian ẩm thực và bản quyền hình ảnh.
Nhà ga Gare d’Orsay, tiền thân của bảo tàng D’Orsay ngày nay, được hoàn thành vào năm 1900 dưới sự thực hiện của 3 kiến trúc sư Lucien Magne, Esmile Bénard và Victor Laloux. Công trình này phục vụ cho giao thông vùng Tây Nam nước Pháp cho đến năm 1939. Về sau sự tồn tại của nhà ga không còn hợp thời nữa nên đã chuyển sang các mục đích khác như trạm trung chuyển thư trong chiến tranh thế giới thứ II, phim trường, khách sạn…
Ý tưởng biến nhà ga trở thành một viện bảo tàng xuất phát từ lời gợi ý của Giám đốc các Bảo tàng nước Pháp. Nó đã được Tổng thống Georges Pompidou phê duyệt vào năm 1974. Năm 1978, chính quyền đã tổ chức một cuộc thi để chọn ra thiết kế phù hợp cho công trình quan trọng, hứa hẹn trở thành địa điểm hấp dẫn nằm giữa bảo tàng Louvre và Bảo tàng quốc gia Nghệ thuật hiện đại.
Nhóm ACT-Architecture gồm 3 kiến trúc sư trẻ gồm Pierre Colboc, Renaud Bardon và Jean-Paul Philippon đã giành được hợp đồng thiết kế. Năm 1981, kiến trúc sư người Italia, Gae Aulenti được tin tưởng nhận công việc thiết kế nội thất cho bảo tàng. Đến tháng 7 năm 1986, việc xây dựng kết thúc.
Bảo tàng chính thức mở cửa đón công chúng tham quan vào tháng 12/1986 dưới thời Tổng thống Francois Mitterrand. Bảo tàng d’Orsay có chiều dài 188m, chiều rộng 75m, dọc theo bờ sông Seine thơ mộng. Nhóm ACT-Architecture đã quyết định làm nổi bật gian giữa và tôn trọng kiến trúc cũ của nhà ga. Bên cạnh các khu vực trưng bày hiện vật, bảo tàng còn có không gian cho nhà hàng, hiệu sách, quán café…nằm tại sảnh trên cùng.
Đây một trong những viện bảo tàng quan trọng nhất của Paris. Tại bảo tàng, có hơn 5.000 tác phẩm hội họa và 2.200 tác phẩm điêu khắc được trưng bày; chưa kể đến rất nhiều tác phẩm họa hình, nhiếp ảnh, mô hình kiến trúc… đều là các tác phẩm nổi tiếng tiêu biểu cho nghệ thuật phương Tây thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Đặc biệt, bảo tàng Musée d’Orsay còn trưng bày một trong những bộ sưu tập giá trị nhất của hai trường phái ấn tượng và hậu ấn tượng, tác phẩm của những nghệ sĩ danh tiếng như Claude Monet, Édouard Manet, Edgar Degas, Paul Cézanne, Auguste Rodin, Pierre-Auguste Renoir, Vincent van Gogh…
Giai đoạn mới thành lập, các tác phẩm nghệ thuật này ở Bảo tàng d’Orsay được tập hợp từ các bảo tàng khác như Louvre, Cluny hay các cơ quan khác như Bộ Ngoại giao, các toà lâu đài. Về sau, bảo tàng mua thêm và được tặng lại từ các đơn vị, cá nhân khác. Hiện nay, các hoạt động tại bảo tàng còn mở rộng sang triển lãm nghệ thuật, tổ chức hoà nhạc, biểu diễn âm nhạc... Với cảnh quan đẹp, khối lượng tác phẩm nghệ thuật phong phú, bảo tàng d’Orsay đứng thứ 9 trong số những bảo tàng đông khách nhất thế giới.
Có thể thấy, nếu hạ tầng giao thông, năng lượng là nền tảng của kinh tế công nghiệp, thì trong nền kinh tế tri thức, văn hóa tạo ra sức hấp dẫn quốc gia, củng cố thương hiệu điểm đến và gia tăng khả năng thu hút đầu tư, nhân tài.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều thành phố từng suy thoái công nghiệp đã hồi sinh nhờ văn hóa: Bilbao với Guggenheim, London với Tate Modern, hay Paris với Orsay. Điểm chung của các mô hình này là tái sử dụng công trình cũ, giảm chi phí xây mới, bảo tồn ký ức đô thị và đồng thời tạo bản sắc độc nhất.
Với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, bài học từ Orsay nằm ở tư duy định giá di sản. Di sản không chỉ là thứ cần bảo tồn vì quá khứ, mà là đòn bẩy cho tương lai nếu được tích hợp vào chiến lược kinh tế sáng tạo, tăng trưởng kinh tế không đến từ việc xây thêm cái mới, mà từ việc hiểu lại và tái định nghĩa giá trị của những gì đã cũ. Trong một thế giới nơi tài nguyên hữu hình ngày càng giới hạn, chính văn hóa và ký ức mới là nguồn vốn tái tạo mạnh mẽ nhất.
Xã Tà Xùa (Sơn La), nơi hơn 99% dân số là đồng bào Mông, đang từng bước trở thành điểm đến du lịch sinh thái giàu bản sắc. Sự phát triển của du lịch không chỉ góp phần giảm nghèo, nâng cao thu nhập mà còn tạo việc làm ổn định, giúp nhiều lao động người Mông ở địa phương không còn phải rời quê mưu sinh...
Một đoàn tàu với không gian biểu diễn nghệ thuật truyền thống, khu ẩm thực, gian hàng OCOP và hành trình qua hàng loạt di sản nổi tiếng đang được kỳ vọng trở thành sản phẩm du lịch mới của miền Trung...
Diễn ra trong gần hai tháng với năm đêm thi vòng loại (30/5, 6/6, 13/6, 20/6, 27/6) trước khi khép lại bằng đêm chung kết 11/7, Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 (DIFF 2026) tiếp tục cho thấy vai trò là động lực kích cầu du lịch của Đà Nẵng.
Chương trình giới thiệu và quảng bá sản phẩm Sâm Ngọc Linh cùng các dược liệu tại Đà Nẵng đã chính thức khởi động, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao giá trị của dược liệu Việt Nam...
Lễ hội Việt Nam - Nhật Bản 2026 tại Đà Nẵng không chỉ là một sự kiện văn hóa đặc sắc mà còn là cơ hội để thành phố quảng bá hình ảnh năng động, hội nhập và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế...
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Diễn đàn Phát triển Khu Công nghiệp Việt Nam được tổ chức trong bối cảnh việc định hướng phát triển các khu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng thu hút đầu tư, góp phần định hình mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.