Tại tọa đàm “Giải pháp tăng trưởng xuất khẩu cao và bền vững” ngày 16/12/2025, ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã chia sẻ về chặng đường bứt phá mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu trong 5 năm qua (2020-2025), khẳng định vai trò trụ cột của lĩnh vực này đối với tăng trưởng kinh tế quốc gia.
ÁP LỰC TỪ CHUẨN MỰC XANH VÀ THÁCH THỨC NỘI TẠI
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân ấn tượng, đạt khoảng 10%/năm. Thành tựu này đã đưa Việt Nam gia nhập nhóm 20 nền kinh tế có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới từ năm 2023. Đáng chú ý, Việt Nam liên tục duy trì trạng thái xuất siêu 10 năm liền kể từ năm 2016, một yếu tố quan trọng giúp ổn định nguồn ngoại tệ, giảm áp lực tỷ giá và củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia.
Từ năm 1995, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ khoảng 500 triệu USD, con số này dự kiến sẽ tăng lên hơn 900 tỷ USD vào năm 2025, tức là gấp khoảng 180 lần. Riêng 11 tháng năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cả nước đã đạt 430,2 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2025, xuất khẩu sẽ cán mốc trên 470 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2024, minh chứng cho vị thế của Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở cao và là điểm sáng trong thương mại khu vực và toàn cầu.
Bên cạnh những kết quả rực rỡ, ông Sơn cho rằng xuất khẩu Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức mới.
Trên bình diện quốc tế, môi trường thương mại toàn cầu đang thay đổi nhanh và khó lường, với sự phục hồi kinh tế thế giới chậm chạp, xung đột địa chính trị, phân mảnh thương mại, và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, làm thu hẹp dư địa tăng trưởng truyền thống.
Đặc biệt, các tiêu chuẩn mới về phát triển bền vững, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và “xanh hóa” chuỗi cung ứng đang trở thành điều kiện bắt buộc. Điều này tạo ra sức ép lớn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ.
Ngoài thách thức từ bên ngoài, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam còn tồn tại nhiều yếu tố chưa bền vững. Tăng trưởng xuất khẩu vẫn phụ thuộc đáng kể vào khu vực FDI. Khu vực doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu. Nhiều ngành hàng còn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu, khiến sản xuất và xuất khẩu dễ bị tổn thương trước cú sốc bên ngoài và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.
Quan ngại hơn, năng lực thiết kế, marketing quốc tế, xây dựng thương hiệu còn hạn chế, và khả năng đáp ứng đồng bộ các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn thị trường cao cấp của một bộ phận doanh nghiệp vẫn còn khó khăn.
Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết trong 11 tháng năm 2025, nhóm mặt hàng công nghiệp chế biến chiếm vị trí chủ đạo. Các mặt hàng tiêu biểu có trị giá cao nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (96 tỷ USD); tiếp đến là máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng; điện thoại và linh kiện; dệt may; giày dép. Nhóm nông – lâm – thủy sản có 3 mặt hàng lọt vào top 10 kim ngạch lớn nhất, gồm: gỗ, thủy sản, và cà phê.
Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm đến 32,3% (khoảng 1/3) tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam. Đáng chú ý, đây là một trong những thị trường lớn hiếm hoi không có FTA với Việt Nam. Ngược lại, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm khoảng 40% tỷ trọng nhập khẩu, chủ yếu là nguyên liệu phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Chỉ ra những thách thức lớn về sự phụ thuộc quá mức vào hai thị trường này (Hoa Kỳ cho xuất khẩu và Trung Quốc cho nhập khẩu), ông Hải nhấn mạnh: điều này tạo ra rủi ro và cần có chiến lược đa dạng hóa thị trường.
Ngoài ra, tỷ trọng lớn của các doanh nghiệp FDI (chiếm 70-75%) trong kim ngạch xuất khẩu, dẫn đến tỷ lệ giá trị gia tăng được tạo ra tại Việt Nam còn thấp, chủ yếu ở khâu lắp ráp cuối cùng , trong khi các khâu giá trị cao như thương hiệu, tiếp thị, và chuỗi cung ứng chưa được hoàn thiện. Cán cân thương mại cũng mất cân đối với tình trạng xuất siêu lớn sang Hoa Kỳ và nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc.
CHUYỂN DỊCH TỪ MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU TỪ CHIỀU RỘNG SANG CHIỀU SÂU
Để ứng phó với nhiều biến động và sự thay đổi xu hướng toàn cầu, ông Hải nhấn mạnh yêu cầu chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, hiệu quả và bền vững, gắn với nâng cao giá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ và tỷ lệ nội địa hóa.
Cụ thể, Việt Nam cần tập trung vào các giải pháp tạo động lực lực tăng trưởng mới. Phát triển các nền công nghiệp nền tảng mang tính cốt lõi, có giá trị bền vững, phát triển mặt hàng nông sản. Chủ động nguồn nguyên liệu bằng cách đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ để gia tăng giá trị nội địa.
Đồng thời, đa dạng hóa thị trường thông qua tích cực xúc tiến, tìm kiếm và ký kết thêm các FTA để tạo ra thị trường mới. Đẩy mạnh các phương thức thương mại mới như thương mại điện tử xuyên biên giới. Đổi mới công tác xúc tiến thương mại gắn với xây dựng thương hiệu. Gắn thương hiệu với truy xuất nguồn gốc (nông sản) và xuất xứ hàng hóa (công nghiệp), gắn với các tiêu chuẩn xanh và số hóa.
Cùng với đó, việc tối ưu hóa quy trình logistics để đưa hàng hóa đến người tiêu dùng với chi phí thấp nhất, thời gian nhanh nhất vô cùng quan trọng nhằm thúc đẩy việc các doanh nghiệp tiến thẳng ra thị trường nước ngoài.
TS Nguyễn Thị Thu Trang, Chuyên gia pháp luật và hội nhập kinh tế quốc tế, khẳng định việc đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững về môi trường, lao động, trách nhiệm xã hội và quản trị doanh nghiệp không còn là lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện bắt buộc đối với hàng hóa xuất khẩu. Do đó, việc chủ động thích ứng với các chuẩn mực bền vững sẽ giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm rủi ro thương mại và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.
Các giải pháp hỗ trợ từ phía Nhà nước như hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng logistics, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được xác định là những yếu tố then chốt để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu cao và bền vững.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.
Chuỗi sản xuất toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chính sách thuế quan, AI và yêu cầu an toàn chuỗi cung ứng. Trước sự dịch chuyển cạnh tranh từ chi phí giá rẻ sang năng lực công nghệ của các nền kinh tế lớn, Việt Nam cần nâng chất dòng vốn FDI, hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp và phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa làm chủ các công đoạn giá trị cao...
Trước áp lực giá thế giới tăng vọt, trong kỳ điều hành ngày 30/7, giá xăng dầu trong nước biến động mạnh. Để kìm hãm đà tăng, liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định tiếp tục chi sử dụng Quỹ bình ổn từ 500 - 1.000 đồng/lít…
Nguồn nguyên liệu rừng trồng đang phân bổ chưa hợp lý, khi phần lớn gỗ được sử dụng cho sản xuất dăm gỗ và viên nén thay vì phục vụ chế biến sâu có giá trị gia tăng cao. Các doanh nghiệp cho rằng nếu không sớm tổ chức lại thị trường nguyên liệu, ngành gỗ Việt Nam sẽ khó nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững...
Hệ thống pháp luật về đê điều đang tiếp tục được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các quy định mới tập trung phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường bảo vệ hành lang đê và nâng cao hiệu quả phòng, chống lũ, bảo đảm an toàn hệ thống đê điều...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Sau chặng đường kinh tế nửa đầu năm, câu hỏi đặt ra lúc này là liệu Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng GDP hai con số, đồng thời vẫn kiểm soát được lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô hay không. Đây không phải là sự lựa chọn giữa tăng trưởng hay ổn định. Vấn đề cốt lõi là lựa chọn phương thức điều hành như thế nào để đạt được cả hai mục tiêu với chi phí thấp nhất.