Năm 2025, tổng sản lượng
thủy sản toàn tỉnh Cà Mau đạt 1.268.500 tấn, tăng 5,56% so với năm trước; riêng sản lượng
tôm đạt gần 595.000 tấn, tiếp tục dẫn đầu cả nước. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản
của tỉnh vượt 2,5 tỷ USD.
Toàn tỉnh có 06 doanh nghiệp được chứng nhận nông nghiệp công nghệ cao, 27 tổ chức và hơn 6.000 hộ dân nuôi tôm siêu thâm canh theo quy trình 2–3 giai đoạn, quy mô ngày càng mở rộng.
Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đã chú trọng phát triển vùng nuôi đạt chứng nhận quốc tế như Naturland, EU Organic, Canada Organic, Selva Shrimp, Mangrove Shrimp, Bio Suisse, Seafood Watch, BAP, ASC...
Đến nay, toàn tỉnh có hơn 36.400ha nuôi tôm đạt chứng nhận quốc tế, gần 8.000 hộ tham gia, khẳng định vị thế của thương hiệu “Tôm Cà Mau” trên thị trường toàn cầu.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ngành tôm Cà Mau hiện vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn mang tính hệ thống và thách thức mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trước hết, vấn đề quy hoạch và hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản còn nhiều bất cập.
Một số vùng quy hoạch chưa thực sự phù hợp với điều kiện thủy văn, sinh thái; hệ thống thủy lợi, đặc biệt là vùng Nam Quốc lộ 1A và ven đê biển Đông, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu cấp – thoát nước chủ động, khiến nhiều khu vực thường xuyên thiếu nước ngọt hoặc nhiễm mặn cục bộ.
Hạ tầng điện, giao thông nội vùng và hệ thống kênh trục cấp nước biển còn hạn chế, ảnh hưởng lớn đến khả năng mở rộng vùng nuôi thâm canh và ứng dụng công nghệ cao.
Ở góc độ thị trường, ngành tôm Việt Nam nói chung và Cà Mau nói riêng đang phải cạnh tranh gay gắt với các quốc gia sản xuất lớn như Ecuador, Ấn Độ, Thái Lan. Các nước này có chuỗi sản xuất khép kín, quy mô lớn, chi phí đầu vào thấp và cơ giới hóa cao.
Trong khi đó, giá thành sản xuất tôm ở Cà Mau vẫn cao hơn 10–15%, năng suất không đồng đều, tỷ lệ thành công thấp, làm giảm khả năng cạnh tranh quốc tế. Ngoài ra, các rào cản kỹ thuật thương mại ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và tiêu chuẩn “xanh” đang tạo thêm áp lực lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu.
Năm 2026, UBND tỉnh chỉ đạo
Sở Nông nghiệp và Môi trường Cà Mau phối hợp các địa phương tiếp tục thực hiện
hiệu quả kế hoạch đột phá các ngành hàng chủ lực như tôm, cua, lúa. Triển khai
mô hình 1.500 ha nuôi tôm siêu thâm canh tuần hoàn ít thay nước theo công nghệ
RAS; phát triển 100.000 ha tôm quảng canh cải tiến, đạt năng suất bình quân 550
kg/ha/năm, nâng tổng diện tích nuôi quảng canh cải tiến lên 384.500 ha.
Tỉnh tiếp tục mở rộng diện
tích nuôi tôm siêu thâm canh, công nghệ cao; phát triển các vùng nuôi tôm quảng
canh cải tiến gắn với các khu, cụm kinh tế động lực và dự án tuyến đường ven biển
tại các xã Vĩnh Hậu, Gành Hào, Đông Hải, Long Điền, phường Hiệp Thành… Hướng đến
xây dựng các vùng nuôi đạt chứng nhận, phục vụ xuất khẩu, phấn đấu sản lượng
tôm đạt khoảng 624.000 tấn.
Song song đó, Cà Mau mở rộng
diện tích lúa - tôm khoảng 1.000-1.500 ha tại các địa phương như Thới Bình, Hồ
Thị Kỷ, Lương Thế Trân, Hưng Mỹ, phường Giá Rai; đẩy mạnh liên kết sản xuất lúa
gạo theo chuỗi giá trị, phấn đấu sản lượng lúa đạt trên 1,8 triệu tấn.
Hiện nay, nhiều công nghệ
mới đã và đang được ứng dụng tại các vùng nuôi tôm Cà Mau giúp người dân vươn
lên làm giàu bền vững.
Tiêu biểu là công nghệ tuần hoàn nước (RAS) được áp dụng trong cả sản xuất giống và nuôi thương phẩm,
đặc biệt tại các mô hình nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng. Với diện tích
áp dụng hơn 2.250ha, hệ thống RAS cho phép tái sử dụng nguồn nước và kiểm soát
môi trường nuôi chặt chẽ, giúp tăng hiệu quả kinh tế từ 15-20% so với phương
pháp truyền thống.
Bên cạnh đó, công nghệ
Biofloc cũng được áp dụng phổ biến ở giai đoạn ương tôm (10-20 ngày đầu) trong
các mô hình thâm canh và siêu thâm canh, với tổng diện tích khoảng 2.000ha. Công nghệ Biofloc giúp tăng tỷ
lệ sống, hạn chế bệnh đường ruột và giảm chi phí xử lý môi trường, góp phần
tăng hiệu quả kinh tế từ 10-12% trong giai đoạn ương.
Ngoài ra, các mô hình
nuôi khác như: nhà màng, ao nổi, ao lót bạt, kết hợp với công nghệ tuần hoàn nước
và xử lý chất thải khép kín... cũng đang được mở rộng. Mô hình thiết kế liên
hoàn gồm ao nuôi, ao lắng, ao trữ nước và ao xử lý thải giúp hạn chế ô nhiễm
môi trường và giảm rủi ro dịch bệnh. Nhờ đó, tỷ lệ thành công trong nuôi tôm
siêu thâm canh tăng lên 70% (so với 60% trước đây), và ở mô hình thâm canh tăng
từ 38% lên 45%.
Bước sang năm 2026, tỉnh
Cà Mau xác định tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số
trong quản lý giống, thức ăn, môi trường nuôi và phòng dịch bệnh, hướng tới giảm
chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững ngành tôm.
Cà Mau đã phối hợp với các Viện, Trường, doanh nghiệp
công nghệ xây dựng hệ thống dữ liệu số hóa toàn ngành, tích hợp các module quản
lý vùng nuôi, quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh, truy xuất nguồn gốc và
chứng nhận sản phẩm.
Ứng dụng IoT, camera tự động, hệ thống giám sát trực tuyến
được đưa vào vận hành rộng rãi. Đặc biệt, tỉnh đã thí điểm phần mềm “dấu chân
carbon” (carbon footprint) nhằm truy xuất phát thải và đáp ứng yêu cầu thị trường
cao cấp như EU, Nhật Bản, Úc.
Trong giai đoạn tới, tỉnh
tập trung phát triển chuỗi giá trị ngành tôm theo hướng khép kín, tăng cường
liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu.
Việc
chuẩn hóa, cập nhật và khai thác thông tin trong nuôi tôm được xác định là nền
tảng quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ theo dõi và phân
tích thị trường, qua đó giữ vững vai trò trụ cột của ngành tôm trong phát triển
kinh tế nông nghiệp của tỉnh.